Hòa giải, không khó nếu trái tim được mở ra…

103_buc-anh-hai-nguoi-linh

Tổ chức kết hợp cựu chiến binh Nam Bắc

Gần đây một nhóm cựu chiến binh của Quân đội nhân dân Việt Nam có ý định vận động anh em cựu binh cả hai miền Nam Bắc ngồi lại với nhau trong cùng một bàn tròn để bước đầu định hình cho việc thành lập một tổ chức kết hợp cựu chiến binh dưới hình thức xã hội dân sự mà mục đích là hòa giải với nhau 40 năm sau khi cuộc chiến kết thúc.

Nói đến hòa giải không ít người lắc đầu ngán ngẩm vì cho tới nay chưa ai thấy được ánh sáng nào từ cả hai phía trong và ngoài nước. Bên trong, chính quyền lên tiếng, vận động trong các bài phát biểu, trên TV hay báo chí nhưng sau đó thì mọi sự lẳng lặng trôi theo sự nghi ngờ của người quan tâm. Bên ngoài, nhìn những hoạt động vẽ vời của chính quyền và tiếp tục khẳng định “hòa giải” chỉ là cái khuôn để người ta đổ những câu sáo rỗng kêu gọi toàn dân mở rộng vòng tay trong khi chính quyền thì khoanh tay đứng nhìn người cần được hòa giải đã và đang lăn lóc sống trong tình trạng bị bỏ rơi, xem thường thậm chí trở thành công dân hạng hai trong cộng đồng mà họ và gia đình đang sống.

Trong hoàn cảnh đó, chính những người lính năm xưa của miền Bắc đứng ra vận động kêu gọi và tìm kiếm những người đồng chí hướng nhằm cùng nhau san sẻ những kinh nghiệm đau đớn trong chiến tranh cũng như giúp nhau vượt qua những mặc cảm hình thành từ những ứng xử bất công từ chính quyền, xã hội.

Thiếu tướng chuẩn đề đốc hải quân, PGSTS giám đốc Học viện Hải Quân Nhân dân Việt Nam Lê Kế Lâm, một trong những người tán thành và chung sức với ý tưởng này cho biết:

“Đây là một chuyện lớn tôi nghĩ rằng chúng ta đã đến lúc phải hòa giải trong dân tộc chúng ta. Thống nhất đất nước đã 40 năm rồi, thế hệ đấu tranh với nhau đến nay đã sinh thêm mấy thế hệ nữa do đó cho nên tôi nghĩ rằng không những chỉ đoàn kết với bà con chúng ta ở nước ngoài về nước mà trong nước cũng phải làm thế nào đó có sự hòa hợp đoàn kết với nhau một cách chân thật.

Nhân dân chúng ta không ai muốn chiến tranh nhưng vì thời thế bắt buộc cho nên mới xảy ra những sự việc đau lòng như 40 năm trước. Bây giờ đã đến lúc chúng ta phải giải quyết.”

Từ năm 1972 nhà báo Võ Văn Tạo khi ấy tham gia vào chiến trường Quảng Trị chứng kiến những hình ảnh mà anh cho là đầy tình người của người lính hai chiến tuyến tại bờ sông Thạch Hãn. Hình ảnh này giúp cho sự khẳng định của anh có cơ sở hơn khi cho rằng người lính luôn có trái tim nhân hậu khác xa với tiếng hô xung phong ngoài trận tuyến, anh cho biết:

“Tôi nghĩ những người lính là những quân nhân nhìn chung bản chất của họ không nham hiểm như các chính trị gia lọc lõi, nói một đàng làm một nẻo. Người lính thì chất phát hơn, bằng chứng là đợt ngưng bắn sau hiệp định Paris, lúc ấy tôi có mặt ở Quảng trị thì tôi thấy binh sĩ hai miền vẫn bơi qua sông Thạch Hãn, chơi thăm và tặng quà nhau bình thường mặc dù trước đó chĩa súng vào nhau. Tôi thấy người lính không có thù hằn gì nhau là quân nhân thì họ phải chấp hành cấp trên ra trận phải đánh nhau khi giáp mặt bên địch thì mình không nổ súng giết người ta thì người ta cũng giết mình, chứ người ta không có ý thức gì thù hằn riêng tư cả.”

Nói về ý tưởng thành lập nhóm cưu chiến binh hai miền nhà báo Võ Văn Tạo cho biết:

“Ý tưởng tổ chức một cuộc gặp gỡ có tính chất biểu tượng của cựu binh hai miền Nam, Bắc đã từng có mặt trong quân ngũ tham chiến trước 30 tháng 4 năm 75, xuất hiện cách đây cũng 4-5 tháng do một số anh em cựu chiến binh của Quân đội nhân dân Việt Nam là bạn bè thân thiết với tôi đưa ra ý tưởng đó.

Khi tiếp nhận được thông tin đó tôi rất hồ hởi thấy rằng đây là một việc làm rất tốt, thứ nhất sau cuộc chiến cái hố sâu ngăn cách nó đào rất lớn, miền Bắc miền Nam rồi bên này bên kia. Cho đến bây giờ cái hố ấy vẫn còn đặc biệt là số bà con người Việt ở hải ngoại, có rất nhiều người chưa thể nào hàn gắn được.

Số cựu chiến binh miền Bắc do hạn chế nhất định vể thông tin nên vẫn còn có cái gì đó suy nghĩ không đúng về phía anh em bên kia. Là một người suy tư về số phận của dân tộc tôi nghĩ rằng tôi và anh đại úy Nguyễn Hữu Cầu, người tù xuyên thế kỷ, 37 năm ở tù thì nhất quán một quan điểm như thế này: Trong thế kỷ 20 dân tộc mình rủi ro trở thành một nơi để cho hai cái ý thức hệ giao chiến tranh đấu với nhau và đấy là cái thiệt thòi cho dân tộc mình. Chúng ta chỉ là những quân cờ nhỏ trên bàn cờ lớn của thế giới thôi.”

Nhà văn quân đội Trần Đức Thạch, người chứng kiến cuộc thảm sát tại Tân Lập, Xuân Lộc trong trận chiến cuối cùng của chiến tranh Việt Nam vào năm 1975 có lẽ là người hiểu tới tận từng chân tóc nỗi đau khổ của mất mát, đổ máu và thương tật còn lại sau chiến tranh, ông cho biết:

000_Hkg10174179-622.jpg
Những thương phế binh VNCH trong một buổi nhận tiền từ thiện tại chùa Liên Trì, TPHCM hôm 9/4/2015.

“Vấn đề hòa giải hòa hợp dân tộc thì từ trước nay nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam họ thường hay rêu rao nhưng trên thực tế thì họ chỉ làm được 50% thôi, có nghĩa là họ chỉ hòa hợp thôi. Họ nghĩ đến chuyện thâu tóm miền Nam rồi bây giờ cái hòa hợp ấy buộc người miền Nam phải theo họ hết, họ hòa hợp là như vậy nhưng còn vấn đề hào giải thì không bao giờ họ làm. Nhưng làm thế nào để hòa giải được bởi vì vết thương của hai miền Nam Bắc nó quá sâu, nó quá đau và nó kéo dài.

Nếu không có nỗ lực để mà hàn gắn được thì nó sẽ di họa cho con cháu đời sau. Chúng tôi nghĩ rằng những người cầm súng hai bên chiến tuyến trước đây đã từng nả súng vào nhau thì lúc này hơn lúc nào hết, nhiệm vụ lịch sử trao cho những người cầm súng trước đây buộc phải bắt tay nhau đã sau đó mới đến những người khác.

Nó là một cái gương để thấy được đó là một sự hòa giải thực tâm, thật sự. Nếu bây giờ chúng ta không làm thì con cháu sau này lịch sử bị xuyên tạc, méo mó thì có lẽ con cháu cũng không thể nào làm nổi. Cái nỗi đau ấy, sự hằn thù ấy nó sẽ kéo dài.

Từ suy luận như thế chúng tôi có ý tưởng vận động để có một cuộc họp bàn tròn giữa các quân nhân tham gia chiến tranh tức là hai miền Nam Bắc có một cuộc gặp gỡ, thông cảm hiểu biết thương yêu lẫn nhau để tạo ra bước đầu tiên trong vấn đề hòa giải.”

Cần hành động cụ thể

Hòa giải không chỉ nói suông mà hành động cụ thể, trực tiếp chẳng những mang lại niềm tin mà còn xác tín với người thua trận một chân lý: con người vốn bình đẳng và tình thương không bao giờ phân biệt giai cấp và thân phận.

Nếu xem những cuộc quyên góp giúp đỡ cho thương phế binh VNCH là một hành động hòa giải thì đây có lẽ là việc làm thuyết phục nhất. Hòa giải giữa người có tình trạng sống tốt hơn đối với người kém may mắn, từng bỏ những phần cơ thể trong cuộc chiến không phải là hành động từ thiện mà còn hơn thế, nó nói lên tâm thức của lá lành đùm lá rách và trong sâu thẩm, thừa nhận công lao của họ và mối bận tâm của người trực tiếp đứng ra thực hiện cuộc hòa giải.

Phong trào vinh danh thương phế binh VNCH đã được tổ chức nhiều lần và người tham dự không ít ngạc nhiên vì trong những người trực tiếp góp phần vào nỗ lực này là một vị bác sĩ của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông là Bác sĩ Trung Tá Đinh Đức Long, không khi nào vắng mặt trong các cuộc thăm khám cho anh em thương phế binh tại nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế. Bác sĩ Long cho biết cảm nhận của ông khi tham gia vào việc làm ý nghĩa này:

“Khi tôi giúp họ thì có người biết tôi là bác sĩ của quân đội miền Bắc nhưng nhiều người không biết, họ chỉ nói với tôi về bệnh tật và thái độ của họ rất hồ hởi phấn khởi. Có những cụ gần bảy tám mươi tuổi nói tôi đã bị thương ba lần không chết tôi buồn quá mà nay bác sĩ khám cho tôi tôi vui quá từ nay không còn vấn đề gì vì đã có người thương đến mình có người lo cho mình. Họ ngoài nỗi đau thể xác còn vấn đề bế tắc tinh thần rất quan trọng. Nay đã có các cha Dòng Chúa Cứu thế đứng ra tổ chức và chúng tôi chỉ là người tham dự. Họ rất phấn khởi và biết ơn các cha và các tình nguyện viên đã góp phần chăm sóc cho họ cả phần hồn và phần xác.

Họ đều là con em là người Việt Nam của mình. Có lần một phóng viên hỏi tôi rằng anh nghĩ rằng khi họ từng là kẻ thù của anh, tôi lập tức trả lời rằng đối với tôi họ chưa bao giờ là kẻ thù cả. Hơn nữa giữa tôi và họ có chung kẻ thù là ý thức hệ của miền Bắc chính cái đó làm cho anh em trong nhà đánh nhau, làm cho dân tộc mình suy yếu do đó đối với tôi họ là anh em trong nhà không có khoảng cách gì cả. Họ là nạn nhân của cuộc chiến.

Tôi làm đây là vì mình là bác sĩ mình có khả năng nên mình giúp. Đây là những người thiệt thòi nhất trong những người thiệt thòi cho nên tôi mang hết khả năng của mình để phần nào khắc phục những thiệt thòi của họ về tinh thần nhất là những đớn đau mấy chục năm nay.”

Cuộc sống của những người lính VNCH còn ở lại không phải ai cũng lâm vào cảnh bần cùng, tuy nhiên so với người chung quanh thì gia đình họ cho tới hôm nay vẫn chưa thoát ra khỏi định kiến của nhà cầm quyền. Thiếu Tướng Lê Kế Lâm nhận xét:

“Tôi tiếp xúc cũng không được nhiều, ví dụ những anh em chạy xe ôm, anh em làm công tác bảo vệ đường phố..tiếp xúc với số anh em đó tôi hỏi cuộc sống thì họ cho biết cũng không đến nỗi khó khăn vất vả. Con cái họ vẫn học hành tiến bộ, vào đại học khi tốt nghiệp rồi vẫn xin việc được, đặc biệt tại các công ty ngoại quốc, công ty tư nhân thì dễ hơn. Còn nói thật, khi xin vào công ty nhà nước thì có khó khăn. Về mặc cảm thì dù sao vẫn đang còn, số anh em đó dù sao vẫn còn mặc cảm và tôi nghĩ rằng mặc cảm này nó do hai phía. Từ phía người dành được chiến thắng mang lại độc lập thống nhất cho dân tộc, với phía bên kia đấu tranh chống lại họ thì bây giờ phải làm sao có sự thông cảm. Tôi đề nghị phía người chiến thắng thì anh phải chủ động mở rộng bàn tay trước. Anh có mở rộng bàn tay, mở rộng tấm lòng thì khi đó anh mới tạo được điều kiện thông cảm và hòa giải với nhau.”

Nhà báo Võ Văn Tạo sau những hưng phấn ban đầu về ý tưởng thành lập nhóm cựu chiến binh hai miền đã gặp không ít trở ngại khi bắt tay vào việc, ông chia sẻ:

“Mặc dù việc làm này rất tốt thôi nhưng ở cái đất nước Việt Nam việc gì mà không phải đảng, công an nghĩ ra và bắt dân làm thì ai làm gì cũng là bất hợp pháp hết. Kể cả có tiền làm từ thiện cho người nghèo người ốm đau nếu mà không xin ý kiến thì cũng bị phá ngay. Phía anh em quân đội miền Bắc thì không phải là khó, riêng ở Hà Nội đã có chừng 20 người, chưa nói miền Trung và miền Nam.

Cái khó khăn lại chính là phía bên VNCH, rất là khó kiếm người. Tôi tìm hiểu nguyên nhân thì như thế này: Hầu hết anh em sĩ quan có trình độ sau khi học tập cải tạo xong đã sang bên Mỹ theo diện HO, còn số ở lại thì anh em binh sĩ suốt 40 năm làm ăn rất lam lũ, khổ cực. Nhiều lúc nhà nước đã đặt họ ra ngoài vòng pháp luật. Có nhiều người đến bây giờ vẫn không có được cái chứng minh thư,  cái căn cước và cuộc sống của họ và gia đình họ bị đày đọa kỳ thị suốt bao nhiêu năm rồi cho nên về kinh tế họ rất khổ. Họ không có nổi cái máy tính hay điện thoại di động đề vào mạng nữa và không có thời giờ đâu để nghĩ chuyện khác ngoài chuyện mưu sinh kiếm ăn.

Họ đi bán vé số, chạy xe ôm thậm chí có người đi ăn xin, rất là thảm. Họ không có điều kiện tiếp nhận những thông tin mới. Khi tiếp cận với họ nói về cuộc hòa giải với người phía bên kia thì tôi nghĩ phải có trình độ nhất định nào đó về nhận thức và có tấm lòng vị tha, vì nhiều người vẫn còn những ghim gút nặng nề oán thù có thể dùng từ “cuồng” để diễn tả.”

Bác sĩ Trung tá Đinh Đức Long cho rằng nói tới hòa giải mà chính quyền vẫn đứng bên lề và không có một quy định nào của pháp luật hương dẫn thì không khác gì chiếc xe chạy trong đêm tối mà không có đèn lẫn còi cảnh báo. Ông chia sẻ:

“Tôi nghĩ đây là trách nhiệm cá nhân của tôi thôi nhưng trách nhiệm chính là của nhà nước cộng sản Việt Nam. Họ kêu gọi hòa hợp hòa giải dân tộc nhưng khi không có pháp luật chuẩn mực thì nó sẽ gây ra chia rẽ dân tộc. Nó sẽ gây ra hận thù oan trái giữa người Việt Nam với nhau không cần thiết.

Họ không thể nói suông bằng mồm được. Dân tộc Việt Nam là một, không được kềm tỏa ai bất cứ phe phái nào bất cứ quá khứ nào để họ lại phía sau. Chúng ta ‘forgive but not forget’.”

“Tha thứ nhưng không lãng quên” như lời Bác sĩ Đinh Đức Long vừa nói có lẽ thích hợp cho cả hai phía. Hòa giải cũng như tình yêu, không thể đơn phương và lặng lẽ một mình.

RFA

Bài giảng của Ttg Lý Hiển Long về QHQT và CSĐN của Singapore

Xin chào và xin chúc quý vị một buổi chiều tốt lành!

Vậy là chúng ta vừa mừng lễ kỷ niệm 50 năm ngày giành độc lập. Đây là lúc nhìn lại những thành tựu chúng ta đã đạt được, và hiểu điều gì đã khiến chúng ta thành công. Đồng thời, năm nay cũng sẽ là năm mà chúng ta cần phải vạch ra hướng đi cho tương lai của mình.

Việc tự đánh giá bản thân sẽ rất có ích cho quan hệ đối ngoại của chúng ta. Dù đây không phải là vấn đề quan tâm hàng đầu của nhiều người Singapore, vì chúng ta đang sống hòa bình và ổn định, cũng như có mối quan hệ thân thiện với hầu hết các nước. Bộ Ngoại giao đã thực hiện rất tốt công việc của mình đến mức nhiều người khó nhận ra sự tồn tại của bộ này. Người ta quan tâm nhiều hơn đến những thứ có ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của họ – như chuyện tàu điện thi thoảng bị hỏng, y tế, thi cử, hay việc làm.

Nhưng trong thực tế, chính sách đối ngoại có vai trò rất quan trọng đối với vị thế của chúng ta trên trường quốc tế, nó đảm bảo sự ổn định khu vực, tạo ra các điều kiện bên ngoài thuận lợi để nền kinh tế phát triển thịnh vượng, và đem đến cho chúng ta một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Khi so sánh với cách đây 50 năm, vị thế của Singapore hiện nay đã được cải thiện đáng kể. Singapore ngày nay là một quốc gia thành công và được tôn trọng. Chúng ta nắm giữ một vị trí cao trong cộng đồng quốc tế, và có những người bạn trên khắp thế giới. Điều này là nhờ vào công sức của nhiều thế hệ cán bộ ngoại giao, bắt đầu với Ngoại trưởng đầu tiên của chúng ta, ông S. Rajaratnam, người mà loạt bài giảng này đã vinh dự được đặt tên theo.

Thế giới ngày nay rất khác với thế giới của 50 năm trước. Năm 1965, Chiến tranh Lạnh đang vào giai đoạn căng thẳng; nhưng giờ thì nó đã kết thúc lâu rồi. Đông Nam Á khi ấy là một khu vực đầy xung đột, với Chiến tranh Việt Nam là một điểm “nóng”; còn chính chúng ta thì phải trải qua thời kỳ Konfrontasi– một cuộc xung đột cường độ thấp giữa Malaysia và Indonesia. Nhưng hôm nay, Đông Nam Á đã hòa bình trở lại, và ASEAN sẽ trở thành Cộng đồng ASEAN vào cuối năm nay. Trên cương vị một quốc gia, đất nước chúng ta hiện nay đã thịnh vượng và vững vàng hơn trước, và trên cương vị một dân tộc, ý thức về bản sắc, về chủ quyền quốc gia của chúng ta cũng mạnh hơn rất nhiều.

Nhưng một số nguyên tắc cơ bản về sự tồn tại của chúng ta không thay đổi. Singapore sẽ luôn là một đất nước nhỏ bé trong một thế giới không ổn định, và đôi khi còn nguy hiểm. Chúng ta vẫn bị bao quanh bởi các nước láng giềng lớn hơn, và nằm giữa khu vực Đông Nam Á. Khu vực này dù đã ổn định hơn và thịnh vượng hơn trước, nhưng nó vẫn là nơi mà các lợi ích của các cường quốc lớn giao thoa nhau, và là một khu vực đa dạng và khó dự đoán hơn so với Bắc Mỹ, và cho tới gần đây là so với châu Âu. Chúng ta vẫn không có tài nguyên thiên nhiên, chỉ có trí thông minh và nguồn dự trữ ngoại tệ mà chúng ta đã khó nhọc tích lũy nên, để đưa chúng ta qua những lúc khó khăn. Sự thật này sẽ rất khó thay đổi trong một thời gian dài nữa.

Thực tế của các nước nhỏ

Các nước nhỏ như chúng ta phải không ngừng tự hỏi: làm thế nào chúng ta có thể đảm bảo rằng chúng ta luôn tồn tại, và giữ vững lợi thế của mình?

Theo ngôn ngữ ngoại giao, quan hệ quốc tế dựa trên các nguyên tắc cao cả. Hiến chương Liên Hợp Quốc quy định sự “bình đẳng chủ quyền” giữa các quốc gia, và tuyên bố các nước phải “giải quyết tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình.” Phong trào Không liên kết được dựa trên Năm Nguyên tắc Chung sống Hòa bình, thể hiện một khát vọng còn cao hơn nữa. Tôi không định kiểm tra kiến thức của các bạn, nhưng Năm nguyên tắc đó là: Tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của nhau; Không xâm lược lẫn nhau; Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; Bình đẳng và hợp tác vì lợi ích chung; và Chung sống hòa bình. Đây là những khẳng định quan trọng, xác định các quy chuẩn của quan hệ giữa các quốc gia và luật pháp quốc tế.

Năm nguyên tắc chung sống hòa bình

Nhưng việc giải quyết các vấn đề quốc tế thường phản ánh một thực tế khắc nghiệt hơn nhiều. Quyền lực sẽ quyết định nước nào chiếm ưu thế, và nước nào sẽ thiết lập chương trình nghị sự. Chính trị cường quyền chưa bao giờ biến mất, dù mọi thứ không hoàn toàn giống với luật rừng. Ngay tại Liên Hiệp Quốc, dù có các điều khoản trong Hiến chương, thì quyền lực vẫn là cốt lõi của ngoại giao. Trong Hội đồng Bảo an gồm 15 thành viên, chỉ nhóm P5 mới có quyền phủ quyết, còn 10 nước được bầu ra thì không. Ngay cả trong P5 cũng tồn tại một thứ bậc. Không phải mọi quyền phủ quyết đều có trọng lượng như nhau. Chúng ta đều biết rằng quyền phủ quyết của một số nước sẽ có giá trị hơn những nước khác, mặc dù nói về vấn đề này sẽ không được ngoại giao cho lắm. Nhưng sự thực là như vậy. Và hệ thống thứ bậc quyền lực này được thể hiện rõ ngay cả trong những điều nhỏ nhất. Trong những bức ảnh chụp tại các cuộc họp quốc tế, người nào đứng ở đâu? Nếu xem xét một cách cẩn thận, bạn sẽ thấy được câu chuyện ẩn đằng sau. Ai sẽ là người phát biểu đầu tiên hoặc cuối cùng? Điều đó phụ thuộc vào người nào được vị Chủ tọa quan tâm. Hoặc nước nào mới có quyền chọn khách sạn mà đoàn đại biểu của họ sẽ ở lại? Điều đó cũng phụ thuộc vào nước nào có sức thuyết phục lớn hơn. Có lẽ đó là lý do tại sao người Trung Quốc lại nói “小 国 无 外交” (Xiǎoguó wú wàijiāo) – Nước nhỏ không có chính sách đối ngoại – bởi vì họ không thể định hình các sự kiện, mà chỉ có thể đi theo những gì đã được định đoạt trước.

Cũng có một câu nói tương tự như vậy ở phương Tây, ngay từ thời cổ đại, trong tác phẩm “Lịch sử Chiến tranh Peloponnese” của Thucydides. Đó là câu nói nổi tiếng: “Kẻ mạnh làm những điều họ có thể làm, và kẻ yếu phải gánh chịu những điều mà họ phải gánh chịu.” Bối cảnh mà câu cách ngôn này ra đời cũng đáng được xem xét. Cuộc chiến Peloponnese diễn ra giữa hai thành bang Athens và Sparta, cùng với các đồng minh của mỗi bên. Athens là bá chủ của Liên minh Delos, một trong hai “siêu cường” trong thế giới các thành bang Hy Lạp cổ đại. Athens muốn buộc Melos, một đảo quốc yếu hơn, gia nhập Liên minh Delos. Vì vậy, họ đã gửi một đội quân sang xâm lược Melos, nhưng trước khi làm điều đó, họ đã gửi các đại biểu và các phái viên đến thuyết phục người Melos tự đầu hàng, nếu không sẽ bị hủy diệt. Melos là một hòn đảo nhỏ ở Biển Aegea. “Cuộc đối thoại ở Melos” của Thucydides mô tả lại những gì người Athens có lẽ đã nói, gồm những lập luận và hồi đáp. Đó là một phân tích về quyền lực và cân nhắc giữa hai bên. Người Melos đưa ra những tranh luận mang tính thực dụng và luân lý, giải thích tại sao Athens không nên tấn công Melos. Nhưng phía Athen chỉ đáp lại một cách tàn bạo: “Kẻ mạnh làm những điều họ có thể làm, và kẻ yếu phải gánh chịu những điều mà họ phải gánh chịu.” Người Melos vẫn từ chối đầu hàng. Kết quả là Athens đã quét sạch Melos, giết chết tất cả đàn ông, bán phụ nữ và trẻ em làm nô lệ. Đó là câu chuyện của 2.400 năm trước, nhưng thực ra nó không hoàn toàn xa lạ trong thế giới hiện đại ngày nay. Hãy nhớ lại những gì đã xảy ra khi Iraq xâm chiếm Kuwait, rồi hãy so sánh nó với những gì xảy ra gần đây, khi mà Nga sáp nhập Crimea. Sức mạnh có vai trò quan trọng.

#7 – Cuộc đối thoại ở Melos

Thúc đẩy lợi ích quốc gia

Dù là một nước nhỏ, nhưng Singapore đã từ chối chấp nhận đó là số phận của mình. Chúng ta quyết tâm làm chủ vận mệnh của chính mình. Chính sách đối ngoại của chúng ta là một sự cân bằng giữa chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lý tưởng. Chúng ta biết mình sẽ phải chấp nhận thế giới, theo một thực tế mà chúng ta chẳng hề mong muốn. Nhưng chúng ta tin rằng mình có thể, và sẽ phải bảo vệ bản thân và thúc đẩy lợi ích quốc gia.

Tất nhiên, chúng ta cần hiểu rõ đâu là lợi ích căn bản của mình, và thực ra những lợi ích này đã không thay đổi trong suốt 50 năm qua. Đó là: hòa bình thế giới; một trật tự quốc tế mà trong đó các nước tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế; thiết lập một mạng lưới bạn bè và đồng minh mà chúng ta có thể làm việc cùng; có được một khu vực châu Á – Thái Bình Dương, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á, ổn định và an toàn; và cuối cùng là giữ gìn chủ quyền và quyền quyết định tương lai của chúng ta.

Làm thế nào Singapore có thể thúc đẩy các lợi ích quốc gia?

Tôi xin gửi các bạn một câu ngạn ngữ cổ Trung Quốc nữa – người Trung Quốc quả là đã giải quyết tất cả những vấn đề này từ lâu. Câu nói này trích từ cuốn “Đại Học,” một trong Tứ Thư của Nho giáo – “修身, 齐家, 治国, 平 天下” (Xiūshēn, qí jiā, zhìguó, píng tiānxià – Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ). Một người trước tiên phải biết tu dưỡng bản thân, thứ đến là chỉnh đốn gia đình, tiếp đó là thiết lập trật tự quốc gia, cuối cùng mới có thể khiến cho toàn thiên hạ thái bình, hạnh phúc. Đây là quan điểm Nho giáo về trị quốc, và nó nằm sâu trong tâm lý người Trung Quốc. Có sợi dây liên kết trực tiếp từ đạo đức cá nhân, đến gia đình, đến cộng đồng, và toàn thể thế giới. Singapore là một xã hội hiện đại, nhưng chúng ta luôn cố gắng hết sức để duy trì các giá trị truyền thống và phù hợp với chúng ta, và câu nói trên là một sự đúc kết trí tuệ, gói gọn những gì chúng ta có thể suy nghĩ về việc thúc đẩy lợi ích quốc gia trên trường quốc tế. Một chính sách đối ngoại thành công phải dựa trên những gì chúng ta làm trong nước. Chúng ta trước tiên phải yên ổn trong nhà thì sau đó quan hệ đối ngoại của chúng ta mới có thể phát triển lớn mạnh được.

Tôi xin được giải thích cụ thể như sau. Đầu tiên, trên bình diện quốc tế, chúng ta phải là một thành viên chủ động và xây dựng, tìm cách mang lại các giá trị gia tăng (cho cộng đồng quốc tế) và làm cho đất nước chúng ta quan trọng với các nước khác. Thứ hai, trong khu vực, chúng ta phải tìm ra mục tiêu chung với các nước láng giềng. Thứ ba, Singapore phải tiếp tục là một dân tộc thành công, phải biết tận dụng bất kỳ ảnh hưởng nào ở nước ngoài. Thứ tư, sự thành công của Singapore, dù ở trong hay ngoài nước, đều phụ thuộc vào sự đoàn kết toàn dân, và có niềm tin vững chắc rằng Singapore sẽ đủ sức để trường tồn và nổi bật.

Một chủ thể mang tính xây dựng trên trường quốc tế

Đầu tiên, trên trường quốc tế, chúng ta phải là một nhân tố chủ động và mang tính xây dựng.

Ngoại giao bao gồm rất nhiều vấn đề, diễn ra trong hàng chục các diễn đàn. Các nhà ngoại giao dường như dành tất cả thời gian của mình trong các cuộc họp, uống trà, hay gặp mặt – từ thời chiến đến thời bình, bàn về thương mại, bảo vệ môi trường, hợp tác văn hóa và xã hội, về gần như mọi lĩnh vực của đời sống con người. Các nước nói chuyện với nhau, kinh doanh với nhau, và cố gắng tác động lẫn nhau. Là một nước nhỏ, chúng ta không thể có mặt ở khắp mọi nơi, nhưng chúng ta phải có mặt tại các diễn đàn chủ chốt và trong những vấn đề quan trọng, ví dụ như Liên Hợp Quốc, WTO, APEC, nơi mà chúng ta có lợi ích bị ảnh hưởng.

Nhiều vấn đề trong số đó sẽ còn tiếp tục trong một thời gian rất dài. Các cuộc đàm phán về biến đổi khí hậu đã kéo dài suốt nhiều năm; các hiệp định thương mại đa phương – như Vòng đàm phán Doha – bắt đầu từ năm 2001 và có lẽ còn tiếp diễn một thời gian dài nữa. Đó là một quá trình dài, nhưng cứ theo định kỳ trong quá trình đó sẽ lại có những hội nghị quốc tế về các vấn đề này, và sau đó chúng ta có một đợt cao trào các hoạt động: những cuộc đàm phán căng thẳng, nguy cơ đổ vỡ và những thỏa thuận phút chót; những đêm không ngủ để dàn xếp ở giờ thứ 11, thậm chí là 13. Với kịch bản này, chúng ta phải có tư duy chiến lược để duy trì chính sách và đường lối của mình trong nhiều năm, để bảo đảm lợi ích quốc gia, nhưng đồng thời vẫn có chiến thuật linh hoạt trong các hội nghị và các can dự khác, để gây ảnh hưởng ở mọi nơi mà chúng ta có thể, và trong mọi tình huống quan trọng với chúng ta.

Vậy chúng ta phải làm gì? Đầu tiên, hãy tìm điểm chung với các nước khác, đặc biệt là với các nước nhỏ. Tiếng nói của từng nước có thể yếu, nhưng khi chung sức, tiếng nói của chúng ta sẽ được khuếch đại, và nó sẽ được lắng nghe. Đó là lý do tại sao tại Liên Hiệp Quốc, chúng ta thành lập Diễn đàn các Nước nhỏ (Forum of Small States – FOSS). Chúng ta nhỏ nhưng lại rất đông. FOSS gồm các nước dưới 10 triệu dân. Tuy chỉ là một nhóm không chính thức, nhưng 105 thành viên của FOSS có mặt ở khắp nơi trên thế giới. Các thành viên gặp nhau, thảo luận, hình thành các lập trường chung, chia sẻ kinh nghiệm và chiến lược. Ngoài ra, còn một tổ chức khác mà chúng ta đã lập ra, đó là Nhóm Quản trị Toàn cầu (Global Governance Group). Đó là một liên minh không chính thức, do 30 nước nhỏ và vừa thành lập, nhằm trao đổi quan điểm về quản trị toàn cầu. Quản trị toàn cầu nghĩa là gì? Đó là các vấn đề như: quy tắc tài chính, IMF và WB, các chính sách kinh tế, nhằm đưa chúng vào các tiến trình G20 và biến G20 thành một nhóm mang tính bao trùm, minh bạch và đại diện hơn. Tóm lại, điều đầu tiên chúng ta phải làm để gia tăng ảnh hưởng của mình là phải tìm ra “mục tiêu chung” với các nước khác.

Thứ hai là phải thường xuyên nhìn về phía trước, để dự đoán sự phát triển, để định vị bản thân, để bảo vệ lợi ích quốc gia, và để dự kiến các sự kiện sẽ diễn ra. Quan trọng nhất là trong những thời điểm bất ổn, khi không thể dự đoán được điều sẽ xảy ra, chúng ta buộc phải chuẩn bị cho nhiều tình huống. Ví dụ, chúng ta đang bắt đầu thực hiện dự án liên chính phủ (Government-to-Government, G-to-G) thứ ba với Trung Quốc ở Trùng Khánh. Điều này sẽ đặt chúng ta tại một đầu trong “Một Vành đai, Một Con đường” của Trung Quốc. Giờ đây Singapore đã là một phần của “vành đai,” đó là Con đường Tơ lụa bắt đầu từ Trung Quốc, đi qua lục địa Á – Âu, và chúng ta cũng là một phần của “con đường” – Con đường Tơ lụa trên biển, đi qua khu vực Đông Nam Á. Và đó là một vị thế giá trị mà chúng ta có được.

Một ví dụ khác, chúng ta gia nhập Hội đồng Bắc Cực (Arctic Council) với tư cách quan sát viên, nhằm tìm ra những gì có thể xảy đến nếu các tuyến đường biển phía bắc trở nên khả thi khi băng Bắc Cực tan chảy. Một đất nước vùng xích đạo đáng lẽ không cần quan tâm đến Bắc Cực, nhưng chúng ta có lý do của mình. Sam Tan, phái viên ngoại giao của chúng ta, là người đã làm việc rất chăm chỉ và đã có rất nhiều bạn ở trong nhóm Vòng tròn Bắc cực (Arctic Circle), thuộc Hội đồng Bắc Cực. Điều này có liên quan đến chúng ta. Nó sẽ không xảy ra vào ngày mai. Nó có thể sẽ diễn ra hoặc có thể không. Nhưng nó có thể xảy ra, và nếu nó xảy ra chúng ta cũng sẽ có mặt ở đó. Đây là những món đặt cược nhỏ để làm bảo hiểm cho vị thế của chúng ta.

Thứ ba, điều chúng ta có thể làm để trở thành một bên có liên quan là hãy đóng góp một điều gì đó. Chúng ta không có nhiều tiền để có thể phân phát, cũng không đủ quyền lực để ép buộc người khác. Nhưng chúng ta biết làm chủ các vấn đề, chúng ta đưa ra những ý tưởng mang tính xây dựng, và mỗi nhà ngoại giao của chúng ta đều có đóng góp trong các cuộc thảo luận.

Đây là những gì mà một thế hệ trước đây chúng ta đã làm được, khi Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) đang được đàm phán. Công ước được ký vào năm 1982. Giáo sư Tommy Koh, hiện là Đại sứ lưu động và là nhà ngoại giao kỳ cựu của chúng ta, đã đóng một vai trò trung tâm trong các cuộc đàm phán trên cương vị Chủ tịch Hội nghị lần thứ ba về Luật Biển. Khi ấy ông đang ở độ tuổi đầu 30, có lẽ là người trẻ tuổi nhất trong hội nghị. Giáo sư Jayakumar và Thẩm phán Chao Hick Tin, theo tôi nhớ thì Giáo sư Jayakumar lúc bấy giờ đang là Đại diện Thường trực của Singapore tại Liên Hiệp Quốc, cả hai đã giữ vai trò chủ đạo, thành lập một liên minh “những quốc gia không giáp biển và có hoàn cảnh địa lý khó khăn” nhằm thúc đẩy lợi ích chung.

Bạn sẽ thắc mắc thế nào là một liên minh “những quốc gia không giáp biển và có hoàn cảnh địa lý khó khăn?” Nó cũng là một liên minh của các nước có cùng mục đích, cùng lợi ích. Những nước không giáp biển là những nước như Lào, Mông Cổ, hoặc Chad – thật ra có khá nhiều nước như vậy trên thế giới. Và ví dụ về nước có hoàn cảnh địa lý khó khăn chính là Singapore. Chúng ta có các đại dương xung quanh, nhưng các nước láng giềng của chúng ta đều đã tuyên bố chủ quyền trên những đại dương đó; và điều này là bất lợi lớn cho chúng ta. Do đó, chúng ta có lợi ích tương tự như các nước không giáp biển. Vì vậy chúng ta thành lập một nhóm “những quốc gia không giáp biển và có hoàn cảnh địa lý khó khăn” nhằm gây áp lực, vốn không phải là không có hiệu quả trong các cuộc đàm phán của UNCLOS. Chúng ta là một đảo quốc nhỏ, với thương mại hàng hải là huyết mạch kinh tế. Chúng ta phải bảo vệ quyền tự do hàng hải và hàng không. UNCLOS quy định về các quyền này, và đã trở thành một điểm tham chiếu pháp lý quan trọng cho các tuyên bố chủ quyền và hoạt động trên các vùng biển. UNCLOS tạo ra một sự cân bằng cẩn trọng giữa quyền và lợi ích của các quốc gia ven biển với quyền và lợi ích tương tự của các nước khác, cung cấp cơ chế phân xử và giải quyết tranh chấp một cách hòa bình. UNCLOS cũng là khuôn khổ để chúng ta suy nghĩ và thảo luận về các vấn đề mà các nước hiện đang phải đối mặt ở Biển Đông.

Đàm phán UNCLOS đã diễn ra một thế hệ trước. Nhưng hiện tại, chúng ta cũng đang tích cực tham gia vào các cuộc đàm phán về biến đổi khí hậu, bao gồm cuộc họp quan trọng diễn ra tại Paris vào tuần tới. Singapore không phải là một nước có lượng phát thải khí nhà kính lớn. Ngay cả khi tất cả người dân Singapore ngừng thở, điều đó cũng chẳng tạo nên bất kỳ khác biệt nào đối với sự nóng lên toàn cầu. Nhưng Đại sứ về biến đổi khí hậu của chúng ta vẫn đóng vai trò tích cực, vận động ủng hộ, đóng vai trò như một cầu nối giữa các nước phát triển và đang phát triển, và biến chúng ta thành những người hữu ích. Bộ trưởng Vivian Balakrishnan trong nhiệm kỳ trước của mình, trên cương vị Bộ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường và Nước, đã đóng một vai trò quan trọng trong các cuộc họp trước đây. Trong Hội nghị các bên ở Lima, Peru hồi năm ngoái, Bộ trưởng Vivian là một trong hai “Bạn của Chủ tọa” (Friends of the Chair), người còn lại là của Na Uy, và “Bạn của Chủ tọa” là những người giúp Chủ tọa đưa ra được một thỏa thuận cho các thành viên tham gia hội nghị. Và họ đã làm việc đằng sau hậu trường để xây dựng sự đồng thuận về một thỏa thuận cho phép hội nghị kết thúc với kết quả tích cực, để quá trình có thể tiếp tục, và đến được Paris, chứ không kết thúc mà không có thỏa thuận nào. Chúng ta có thể rất nhỏ, nhưng đó là đóng góp mà chúng ta có thể làm.

Thỉnh thoảng, chúng ta cũng may mắn khi đưa ra một sáng kiến nhỏ nhưng dẫn đến một kết quả có ý nghĩa lớn hơn, ví dụ như Hiệp định Đối tác Chiến lược Xuyên Thái Bình Dương (TPP). Câu chuyện này bắt đầu cách đây 10 năm, khi bốn nước nhỏ ký một Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) trong khu vực châu Á Thái Bình Dương. Bốn nước đó được gọi là “Thái Bình Dương 4” (Pacific 4 – P4) gồm: Singapore, Brunei, Chile và New Zealand. Đây không phải là 4 nước đầu tiên mà mọi người sẽ nghĩ đến khi nói về một FTA đầy hứa hẹn trên thế giới, nhưng đây là 4 nước có cùng chí hướng và mục đích trong việc hướng tới thỏa thuận. Thương mại giữa các nước này khá khiêm tốn. Tổng tác động của FTA của P4 lên thương mại thế giới là không đáng kể. Nhưng chúng ta đã tạo dựng P4 với hy vọng rằng nó sẽ trở thành hạt nhân mà sau này các nước châu Á – Thái Bình Dương khác có thể tham gia, và dần dần phát triển thành một Hiệp định Thương mại Tự do quan trọng trong khu vực châu Á Thái Bình Dương. Và quả thực, đó là những gì đã xảy ra. Nhiều nước muốn trở thành một phần của hiệp định này; từng nước một đã bày tỏ quan tâm – Australia, Canada, Peru, Việt Nam. Sau đó, người Mỹ đến và thay đổi cuộc chơi hoàn toàn. Tiếp nữa, Nhật Bản tham gia – tuy muộn, nhưng họ hội nhập rất nhanh. Cuối cùng, nó đã trở thành nhóm TPP với 12 quốc gia thành viên, chiếm 40% GDP toàn cầu, tính cả Mỹ và Nhật Bản. TPP từ một con vịt con xấu xí trở thành thiên nga. TPP khác hoàn toàn với P4 – về quy mô và tham vọng. Nó không chỉ có ý nghĩa kinh tế, mà còn có ý nghĩa chiến lược. Nó làm tăng thêm mối quan hệ giữa Mỹ và châu Á, làm cho khu vực trở nên hội nhập và ổn định hơn, và là con đường để cuối cùng dẫn đến một khu vực thương mại tự do thậm chí còn tham vọng hơn nữa ở châu Á Thái Bình Dương. Vì vậy, tuy không thể tuyên bố mình là “cha đẻ” của TPP, nhưng chúng ta đã tham gia vào tiến trình dẫn tới sự hình thành TPP.

Đó là cấp độ đầu tiên. Trên trường quốc tế, chúng ta cần phải làm cho mình trở thành bên có liên quan, và phải có đóng góp.

Tăng cường hợp tác và ổn định khu vực

Ở cấp độ thứ hai, chúng ta phải duy trì quan hệ tốt với các nước láng giềng, cụ thể là khu vực Đông Nam Á.

ASEAN là “hòn đá tảng” trong chính sách đối ngoại của chúng ta. Singapore tích cực hợp tác với các đối tác thuộc ASEAN, tham gia vào các dự án của ASEAN, giúp đỡ các nước kém phát triển hơn trong ASEAN như Campuchia, Lào, Việt Nam, đặc biệt là Myanmar, giúp họ thu hẹp chênh lệch trình độ phát triển thông qua Sáng kiến Hội nhập ASEAN (Initiative for ASEAN Integration – IAI). Và chúng ta cố gắng thúc đẩy sự đồng thuận trong ASEAN về các vấn đề chung, cho dù đó là theo đuổi hội nhập kinh tế nội khối, hay giải quyết ô nhiễm khói mù xuyên biên giới, vốn là một vấn đề chung của nhiều quốc gia ASEAN.

Chúng ta thuộc số những quốc gia nhỏ thuộc ASEAN. Chúng ta không ở vị trí thống trị, nhưng chúng ta vẫn làm phần việc của mình. Và chúng ta cũng làm việc với các nước ASEAN trong các diễn đàn rộng hơn, bên ngoài ASEAN, nhằm biến ASEAN thành một thành viên hiệu quả và đáng tin cậy trong các diễn đàn khu vực và đa phương lớn hơn. Chẳng hạn, tại Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á, Diễn đàn Khu vực ASEAN, WTO hay Liên Hiệp Quốc. Trong các diễn đàn này, thường lợi ích của các nước ASEAN hội tụ, điều tạo cho Singapore một cơ hội đóng góp bằng cách hợp tác với các thành viên ASEAN khác, thay vì đối lập với họ trên bàn đàm phán. Trong quá trình này, nhờ làm việc cùng nhau, chúng ta xây dựng mối quan hệ chặt chẽ hơn với họ.

Tất nhiên, ngoại giao ASEAN không phải luôn luôn là về tăng cường hợp tác. Nhiều lần chúng ta cũng phải giải quyết tranh chấp và va chạm, như chúng ta đang làm trong trường hợp Biển Đông. Singapore không phải là một bên yêu sách, nhưng chúng ta có lợi ích quan trọng bị ảnh hưởng – tự do hàng hải, giải quyết hòa bình các tranh chấp, tôn trọng luật pháp quốc tế. Chúng ta cũng có một vai trò riêng, vì Singapore là nước Điều phối viên quan hệ đối thoại ASEAN – Trung Quốc trong ba năm tới. Mục đích của chúng ta trên cương vị điều phối viên là trở thành một bên trung gian trung thực, làm việc công bằng và cởi mở với tất cả các bên, vì mục đích của chúng ta không chỉ là duy trì ổn định và hòa bình khu vực, mà còn tạo dựng danh tiếng là một quốc gia đáng tin cậy để hợp tác, và cũng để nâng cao uy tín của ASEAN trong vai trò một tổ chức hiệu quả, đủ khả năng đối phó với các vấn đề an ninh khó khăn.

Trong ASEAN, mối quan hệ sâu sắc nhất của chúng ta là với hai nước láng giềng, Malaysia và Indonesia. Tuần trước, khi tôi ở Kuala Lumpur, Thủ tướng Najib và tôi đã khai mạc một cuộc triển lãm, với tên gọi Titian Budaya – Cầu nối văn hóa – nhằm kỷ niệm 50 năm quan hệ hữu nghị Singapore-Malaysia thông qua nghệ thuật và văn hóa. Tôi đã phát biểu và Thủ tướng Najib cũng vậy. Tôi mô tả mối quan hệ giữa hai nước bằng câu tục ngữ Malay, “bagai aur dengan tebing” – tức giống như quan hệ giữa bờ sông và cây tre mọc trên bờ sông; chúng phụ thuộc vào nhau. Tre mọc bên bờ sông, và rễ tre giữ đất ven bờ để chúng không bị lở. Cả hai cùng cộng sinh và cùng tồn tại với nhau.

Singapore và Malaysia phụ thuộc vào nhau, và chúng ta phải học cách làm việc với nhau. Vì thế mà Singapore đang cố gắng thúc đẩy quan hệ với Malaysia và Indonesia, hai trong số những đối tác kinh tế lớn nhất của chúng ta. Chúng ta hợp tác về an ninh, môi trường, du lịch, và nhiều lĩnh vực khác. Công dân của từng nước đều sang nước còn lại, để du lịch hay vì lý do công việc.

Nhưng tất nhiên, đây là những mối quan hệ phức tạp, và chắc chắn, theo thời gian, sẽ phát sinh vấn đề, nhưng khi chúng xảy ra, Singapore sẽ giải quyết chúng một cách bình thản mà không làm ảnh hưởng đến mối quan hệ rộng lớn hơn, hay gây ra căng thẳng. Đó là cách chúng ta xử lý vấn đề Pedra Branca, một tranh chấp với Malaysia. Nếu các bạn đã quên, thì đây là tranh chấp về chủ quyền trên đảo Pedra Branca, nơi có ngọn hải đăng Horsburg. Tranh chấp này bắt đầu vào năm 1979. Đó là một vấn đề khó khăn cho cả hai bên, nhưng chúng ta đã đồng ý đưa tranh chấp ra Tòa án Công lý Quốc tế (International Court of Justice – ICJ) và cuối cùng, vào năm 2008, gần 30 năm sau khi bắt đầu tranh chấp, ICJ đã ra phán quyết. Cả hai nước đều chấp nhận phán quyết đó, và không để nó ảnh hưởng đến mối quan hệ song phương rộng hơn. Và hai bên tiếp tục làm việc với nhau trong các dự án cùng có lợi khác, như Dự án Đường sắt cao tốc.

Tương tự, với Indonesia, chúng ta cũng hợp tác trên nhiều lĩnh vực, và hy vọng sẽ tiến xa hơn nữa dưới thời Tổng thống Joko Widodo. Đó là cấp độ thứ hai trong chính sách đối ngoại của chúng ta, liên quan tới khu vực láng giềng: ASEAN và khu vực Đông Nam Á.

Đảm bảo thành công của Singapore

Nền tảng thứ ba cho một chính sách ngoại giao tích cực và hiệu quả là đưa Singapore trở thành một quốc gia thành công. Điều tôi muốn nói ở đây là một nền kinh tế thịnh vượng, người dân sống trong hòa bình và hòa hợp, đất nước hoạt động có hiệu quả và đặc biệt, phải là một quốc gia an toàn – có thể tự bảo vệ bản thân, và quyết tâm sẽ làm như vậy.

Một quốc gia thất bại không thể có một chính sách đối ngoại hiệu quả. Các nhà ngoại giao có thể xuất sắc, đôi khi họ thực sự như vậy. Họ có thể phát biểu hùng hồn tại Liên Hợp Quốc, thường thì họ sẽ làm được như vậy. Nhưng nếu đất nước là một mớ hỗn độn, chẳng có ai xem xét chúng một cách nghiêm túc.

Vì nền kinh tế của Singapore đã phát triển thịnh vượng, nên những nước khác muốn làm kinh doanh với chúng ta. Bởi xã hội chúng ta đang hòa thuận, và chúng ta đã tìm thấy giải pháp cho nhiều vấn đề của mình, như nhà ở, y tế, hoặc cấp nước, nên các quốc gia khác cũng coi trọng và xem chúng ta là một ví dụ thú vị để học hỏi.

Đó là lý do tại sao chúng ta hợp tác với nhiều quốc gia trong các dự án tập trung vào chuyên môn và uy tín của mình, và điều này tạo cơ hội cho doanh nghiệp và người dân của chúng ta. Chúng ta có các dự án liên chính phủ với Trung Quốc – Khu Công nghiệp Tô Châu, Thành phố Xanh Thiên Tân, và giờ là Dự án Khu vực phía Tây Trùng Khánh. Chúng ta còn có các khu công nghiệp liên doanh tại Indonesia, Việt Nam, và trên thực tế ở Việt Nam, nó được gọi là Khu công nghiệp Việt Nam-Singapore (Vietnam-Singapore Industrial Park, VSIP). Chữ S trong tên gọi viết tắt đó phần nào có giá trị về mặt xây dựng thương hiệu. Tại Ấn Độ, các công ty của chúng ta gần đây đã quy hoạch tổng thể cho Amaravati, thủ phủ mới của bang Andhra Pradesh, một khu vực còn nguyên sơ. Các công ty cấp nước và dịch vụ đô thị của chúng ta có nhà máy trên khắp châu Á, Bắc Phi và Trung Đông. Vậy nên chúng ta phải là một quốc gia thành công.

Nhưng ngoại giao cần được hỗ trợ bởi nhiều thứ hơn chỉ là lời nói. Lời nói thực sự quan trọng. Singapore luôn coi trọng những lời nói ra. Ông Rajaratnam là một bậc thầy về sử dụng ngôn từ trong những bài phát biểu cũng như bút chiến. Chúng ta rất, rất xem trọng những từ ngữ nói ra. Chúng ta cân nhắc từng chữ một trong mỗi tuyên bố được đưa ra. Chúng ta tôn trọng tất cả các thỏa thuận mà chúng ta ký kết, và chúng ta mong các nước khác cũng hành động như vậy. Khi báo chí dẫn sai lời của chúng ta, hoặc đưa tin sai, chúng ta đã mất rất nhiều thời gian để sửa chữa chúng. Nhưng lời nói rất quan trọng đối với chúng ta, vì chúng ta là một nước nhỏ. Như một nhà ngoại giao Phần Lan đã từng nói – “Là một nước nhỏ, vũ khí duy nhất của chúng ta là ngôn từ và các điều ước quốc tế.”

Chúng ta xem trọng chúng, nhưng cuối cùng thì ngôn từ phải được biến thành hành động và kết quả, hay hậu quả. Vì vậy, điều quan trọng là chúng ta phải có một lực lượng quốc phòng vững mạnh, để có thể bảo vệ Singapore khi tất cả các biện pháp khác đều thất bại. Do đó, một Lực lượng Vũ trang Singapore (Singapore Armed Forces – SAF) vững mạnh là một tầng nấc quan trọng trong quan hệ đối ngoại và chính sách đối ngoại của chúng ta. May mắn thay, chúng ta đã có điều đó. Trong suốt 50 năm qua, dù chưa một lần phải bắn một phát súng với sự giận dữ, nhưng SAF đã gìn giữ cho Singapore được an toàn, và đảm bảo rằng các nước khác cũng xem trọng chúng ta. Hy vọng tương lai vẫn sẽ tiếp tục như vậy.

Singapore đã là một quốc gia thành công, nhưng chúng ta không bao giờ được để điều đó làm chúng ta kiêu ngạo. Đừng bao giờ tin rằng chúng ta vượt trội so với các nước khác, hay chúng ta giỏi hơn các nước khác trong việc giải quyết vấn đề của họ. Chúng ta không giải quyết được hết mọi vấn đề của chúng ta, và chúng ta càng biết ít hơn về cách làm thế nào để giải quyết tất cả các vấn đề của người khác. Chúng ta không giả vờ là một “thành phố trên đỉnh đồi”, hay là một dân tộc khai sáng, coi mình là tấm gương mà mọi quốc gia khác phải noi theo. Chúng ta giải quyết vấn đề của riêng mình, chúng ta thành công theo cách của riêng mình, chúng ta cố gắng trở thành người láng giềng và người bạn tốt – quan trọng với các nước khác, nhưng vẫn khiêm tốn và hiểu rõ vị trí của mình trên trường quốc tế. Các nước khác có những điểm mạnh mà chúng ta thiếu. Người dân của họ cũng có khả năng và tài năng như người dân của chúng ta, nhưng hoàn cảnh, lịch sử của họ khác chúng ta, và những thách thức họ phải đối mặt thường sẽ phức tạp hơn. Cũng như những người khác hy vọng sẽ học được điều gì từ chúng ta, chúng ta cũng luôn phải mong muốn học được điều gì đó mới mẻ mỗi lần chúng ta gặp ai đó từ một nước khác.

Một dân tộc thống nhất

Thứ tư, để thành công, chúng ta phải là một dân tộc thống nhất – thống nhất về chính trị và thống nhất trong một xã hội đa sắc tộc gắn kết.

Chúng ta phải thống nhất về mặt chính trị. Điều đó không có nghĩa là không có chính trị trong nước, hoặc đối lập chính trị. Nhưng nó có nghĩa là người dân sẽ bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử công khai, nhằm chọn ra những người mà họ muốn sẽ điều hành Chính phủ, và chúng ta có một phe đối lập hiểu được lợi ích căn bản của Singapore trên thế giới, và sẽ không tìm cách phá hoại lợi ích căn bản của Singapore, dù là để tìm kiếm sự hỗ trợ từ nước ngoài hay để đạt được ưu thế chính trị. Tức là sau các cuộc bầu cử, chúng ta vẫn sẽ thống nhất với nhau, đặc biệt là khi phải đối phó với các nước khác.

Chúng ta đã có những đảng đối lập như thế. Ông Chiam See Tong, người đã nghỉ hưu – mặc cho bất cứ bất đồng, tranh luận, hay khác biệt quan điểm chính sách nào diễn ra trong nước, thì mỗi khi ông ra nước ngoài, hoặc trong một phái đoàn chính thức hoặc với tư cách một đại biểu Quốc hội, ông luôn đứng lên vì Singapore. Đó là một tiêu chuẩn thực sự nên được ưu tiên áp dụng tại Singapore.

Ổn định chính trị là rất quan trọng để duy trì đường lối và nhận thức rõ ràng về lợi ích quốc gia, và theo đuổi chúng một cách nhất quán trong một thời gian dài. Nếu chúng ta có thể làm điều đó, nó có thể bù đắp cho sự thiếu hụt sức mạnh của chúng ta; nó khiến nước khác có cơ sở để tin rằng chúng ta sẽ là đối tác tin cậy. Nếu xem xét những nước có nền chính trị bất ổn, với các làn gió chính trị đổi chiều liên tục, thì thường chính sách đối ngoại của họ cũng thay đổi liên tục. Điều này gây cản trở rất nhiều khi nước khác muốn hợp tác với các nước này, bởi vì họ không thể chắc chắn rằng những gì họ đạt được với một chính phủ này sẽ không bị chính phủ kế tiếp từ bỏ và lật ngược lại. Hơn nữa, những nước này cũng rất dễ bị lợi dụng, vì họ có thể đợi bạn hết cầm quyền do biết rằng chính phủ của bạn chỉ là một “chính phủ vịt què” không thể tồn tại lâu.

Vì vậy, chúng ta phải thống nhất về mặt chính trị để có một chính sách đối ngoại hiệu quả. Chúng ta cũng cần thống nhất, không phân biệt chủng tộc, ngôn ngữ và tôn giáo, để không bị chia rẽ khi tiến hành chính sách đối ngoại, và không bị nước khác làm cho suy yếu và lợi dụng việc ta bị chia rẽ nội bộ. Chúng ta có thể là người Singapore gốc Ấn Độ, gốc Mã Lai hay gốc Hoa, nhưng trên tất cả, chúng ta là người Singapore. Chúng ta phải nhìn thế giới qua đôi mắt của Singapore, và thúc đẩy lợi ích của Singapore, lợi ích chung của chúng ta. Vẫn có những mối liên hệ về văn hóa, ngôn ngữ, chủng tộc, quan hệ họ hàng giữa các nhóm dân tộc của chúng ta và các nhóm tương ứng ở Ấn Độ, Trung Quốc, và Đông Nam Á. Thực tế, trong mỗi trường hợp, các nhóm sắc tộc này ở nước ngoài còn lớn hơn các nhóm ở Singapore. Hiện có hơn 1 tỷ người Trung Quốc trên thế giới, nhưng chỉ khoảng 2-3 triệu người là ở Singapore. Tương tự với người Ấn Độ và Mã Lai. Và không chỉ các nhóm dân tộc mà còn các nhóm tôn giáo – người Ấn giáo, Hồi giáo, Thiên chúa giáo, Phật giáo sinh sống ở nước ta, tất cả đều có các giáo đoàn hay các cộng đồng lớn hơn đang ở nước ngoài. Những mối quan hệ đó là một tài sản quý giá, bởi vì chúng giúp chúng ta hiểu và làm việc được với các đối tác ở Trung Quốc, Ấn Độ, Đông Nam Á, hay Trung Đông. Nhưng chúng cũng có thể là điểm yếu, nếu các nhóm dân tộc hay tôn giáo ở bên ngoài chia rẽ chúng ta theo những đường chia cắt căn bản này. Vì vậy, chúng ta phải củng cố hòa hợp sắc tộc và tôn giáo, tiếp tục tăng cường bản sắc của người Singapore.

Ngày nay, xã hội chúng ta đã có sự gắn kết nhiều hơn và bản sắc Singapore cũng đã mạnh lên nhiều, nhưng trước đây thì không như thế. Trong những năm 1970, đội tuyển bóng bàn Trung Quốc đến Singapore – đó là ngoại giao bóng bàn. Họ đã đấu với đội Singapore, và đám đông người Singapore lại cổ vũ đội tuyển Trung Quốc. Năm 1984, quân đội Ấn Độ tấn công Đền Vàng ở Amritsar, và người dân chúng ta cũng đã có phản ứng. Indira Gandhi bị ám sát bởi vệ sĩ người Sikh của bà, cũng có phản ứng tại Singapore. Tức là các sự kiện bên ngoài có ảnh hưởng lên chúng ta; nhưng ảnh hưởng không đồng đều đối với từng bộ phận khác nhau trong xã hội. Giờ đây, bản sắc của chúng ta đã rõ ràng hơn, mạnh mẽ hơn, chúng ta tự hào là người Singapore. Tại SEA Games vài tháng trước đây, khi tiếng nhạc đã ngừng, đám đông vẫn tiếp tục hát bài Majulah Singapura (Quốc ca Singapore)! Tôi nghĩ điều đó thực sự rất tốt, nhưng đối với chúng ta, củng cố bản sắc dân tộc vẫn luôn luôn là một quá trình liên tục.

Chúng ta đang rất thận trọng trong quan hệ với các nước khác, khi mà sắc tộc hay tôn giáo có thể dẫn đến hiểu lầm. Chẳng hạn như quan hệ của chúng ta với Trung Quốc, nhìn chung là rất tốt. Nhưng rõ ràng, chúng ta là người Singapore, còn họ là người Trung Quốc, là hai quốc gia khác nhau. Chúng ta không giống như cách Chủ tịch Tập Cận Bình nói về Đài Loan – hai nước mà “xương gãy nhưng gân vẫn còn nối” – “打断 骨头 筋 相连” (Dǎ duàn gǔtou jīn xiānglián). Khi lãnh đạo Singapore gặp lãnh đạo Trung Quốc trong các cuộc họp chính thức, chúng ta nói chuyện bằng tiếng Anh và sử dụng thông dịch viên, dù rằng nhiều nhà lãnh đạo của ta vẫn hiểu và có thể nói được tiếng Quan thoại.

Đây là một điểm quan trọng về mặt nguyên tắc. Các nước khác có thể không nhận ra điều này, và họ có thể nghĩ rằng do nhiều người dân Singapore là người gốc Trung Quốc nên Singapore là một xã hội người Hoa. Ví dụ, trong các cuộc họp quốc tế, đôi khi các nhà lãnh đạo sẽ có hướng dẫn viên mặc trang phục dân tộc của họ, để họ có thể biết nên đi theo ai, hay đi tới chỗ nào. Đôi khi, hướng dẫn viên của đại biểu Singapore lại thường mặc một bộ sườn xám Trung Quốc màu đỏ. Sườn xám thanh lịch thật đấy, nhưng đó không phải là quốc phục của chúng ta!

Tôi đã từng giải thích với một Thủ tướng Nhật Bản rằng một người Hoa Singapore (Singapore Chinese) khác với một người Hoa Trung Quốc (Chinese Chinese). Tôi giải thích sao lại như vậy. Ông ấy đã lắng nghe tôi một cách cẩn thận, nhưng sau đó lại bối rối hỏi thông dịch viên của mình rằng “Thế nào là người người Hoa Trung Quốc (Chinese Chinese)?” Đó là một khái niệm hoàn toàn xa lạ với ông. Người Hoa là người Trung Quốc. Một người Hoa Trung Quốc nghĩa là gì? Nhưng thực chất vẫn có những nhóm dân tộc Hoa khác nhau, và sự khác biệt là vô cùng quan trọng trong một xã hội đa sắc tộc.

Đây không phải là vấn đề chỉ có ở Singapore. Ở Mỹ, Henry Kissinger có thể là người Do Thái, và Israel là một đồng minh thân cận của Mỹ, nhưng khi ông trở thành Cố vấn An ninh Quốc gia và Ngoại trưởng Mỹ, ông đã hành động vì lợi ích của nước Mỹ, không phải của Israel. Và ông đã gây sức ép rất mạnh lên Israel trong việc ký thỏa thuận hòa bình với Ai Cập.

Ở Singapore cũng vậy, chúng ta đã có năm Ngoại trưởng là người gốc Ấn Độ, nhưng họ đều đã nhìn tất cả theo quan điểm của Singapore và đại diện cho lợi ích của Singapore, với tư cách là người Singapore. Đó là cách nó phải như vậy.

Lựa chọn và Niềm tin

Cuối cùng thì cả tác động bên ngoài lẫn sự đoàn kết và thành công trong nước đều quy về niềm tin của chúng ta trong tư cách những công dân Singapore. Chúng ta phải xác định rằng chúng ta muốn là người Singapore, để đứng lên với thế giới, và trở thành một chấm đỏ sáng ngời.

Như ông Rajaratnam đã nói – “Là một người Singapore không phải là vấn đề về gốc gác tổ tiên, mà là về lựa chọn và niềm tin.” Nếu chúng ta lựa chọn và có niềm tin rằng chúng ta muốn Singapore trường tồn và vươn lên, thì tất cả mọi điều rồi sẽ tự theo sau mà trở thành hiện thực.

Những nước khác cũng đang theo dõi chúng ta, để xem liệu Singapore có niềm tin đó hay không, liệu chúng ta có sự mãnh liệt bên trong đó hay không và liệu chúng ta có “tấm lòng” để trở một dân tộc không chỉ biết tập trung vào thành công hẹp hòi của mình hay không. Nó được thể hiện trong tinh thần của mỗi người lính chuyên nghiệp, hay những người lính nghĩa vụ trong các đơn vị quân đội của chúng ta – để đấu tranh cho những gì chúng ta yêu mến và tin tưởng. Nó thể hiện trong cách chúng ta giúp đỡ nhau và giúp đỡ các nước láng giềng. Ví dụ, khi có sóng thần ở Indonesia, SAF đã tới giúp đỡ và giải cứu, phân phối và vận chuyển hàng hóa, viện trợ trong tình thế cấp thiết. Khi các đám khói mù xuất hiện gần đây, tình nguyện viên từ các tổ chức Relief.sgLet’s Help Kalimantan đã đến Kalimantan và Sumatra rất nhiều lần, nhằm cung cấp khẩu trang cho người dân địa phương. Họ làm việc với các tổ chức quốc tế, với Chính phủ Indonesia, và họ đang mang lại những thay đổi tích cực, dù nhỏ nhưng cụ thể và hữu ích. Vâng, chúng ta bảo vệ lãnh thổ, và chăm sóc cho người dân của chúng ta, nhưng người dân của chúng ta không hề hẹp hòi. Chúng ta phải thể hiện tinh thần hào phóng và bác ái đối với mọi người.

Và đó là một trong những lý do tại sao Rajaratnam lại là một ngoại trưởng thành công. Bởi vì ông đã chiến đấu cho quyền lợi của Singapore nhưng đồng thời cũng quan tâm đến người khác, ông đã làm việc hòa hợp cùng với những người khác, trò chuyện với ngoại trưởng các nước khác, tạo dựng quan hệ với họ, và thúc đẩy những vấn đề quan trọng đối với cả hai bên.

Vì vậy, thậm chí ngay từ góc nhìn hẹp thì đây cũng là điều tích cực. Nhưng thực ra, điều phải trở nên căn bản là chúng ta là người Singapore, và hào phóng với người khác là một phần trong tâm trí của người dân Singapore. Nếu chúng ta có niềm tin đó, nếu chúng ta có tư duy đó, thì tất cả mọi điều khác sẽ tự động theo sau. Chúng ta sẽ là một dân tộc thống nhất, chúng ta sẽ đưa Singapore đến thành công. Từ đó, Singapore sẽ có một chính sách đối ngoại hiệu quả, và chúng ta sẽ có thể đem ánh sáng từ chấm đỏ nhỏ bé của mình ra với thế giới.

Xin trân trọng cảm ơn!

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và trách nhiệm đối với tương lai Việt Nam

Trần Văn Thọ – Đại học Waseda – Nhật Bản

6-12-2015

Mở đầu:

Gần đây vấn đề thế nào là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) được bàn đến tương đối nhiều và được dư luận quan tâm. Dân chúng không thể không quan tâm đến vấn đề này vì đây là một định hướng cơ bản xây dựng đất nước của đảng cầm quyền. Nhưng vấn đề tối quan trọng như vậy mà cho đến nay chưa được giải thích rõ, ngay cả giới nghiên cứu trong đảng cũng chưa đưa ra một giải thích đầy đủ. Điều đó nói lên bản chất của vấn đề này: Đảng Cộng sản VN tuy phải tiến hành đổi mới (chuyển sang kinh tế thị trường) nhưng vẫn muốn duy trì chủ nghĩa xã hội, ít nhất là trên nguyên tắc, nên đã đưa ra khái niệm kinh tế thị trường định hướng XHCN để tự xác định là không thay đổi đường lối cơ bản lâu dài, còn đổi mới chỉ là sách lược trong thời quá độ. Nhưng như vậy lại gây ra mâu thuẫn về lý luận và thực tiễn giữa hai khái niệm kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội. Thực tiễn ngày càng diễn ra sôi động nên không thể không có giải thích rõ hơn về mặt lý luận. Đó là lý do có sự bàn luận sôi nổi gần đây về khái niệm, về lý luận về nền kinh tế thị trường XHCN. Có thể nói lần đầu tiên vấn đề này được vài người có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước công khai bàn luận, giải thích trên mặt báo dù rằng vấn đề kinh tế thị trường định hướng XHCN đã được đưa ra thành chủ trương từ hơn 20 năm nay.1

Đọc những bài viết hoặc những cuộc tọa đàm trên báo gần đây về đề tài trên tôi thấy có hai nhóm ý kiến hoặc hai nhóm chuyên gia: Một là của các vị làm công tác quản lý trực tiếp hoặc gián tiếp trong bộ máy nhà nước, thường xuyên phải tiếp cận với các vấn đề thực tiễn, phải tìm cách giải thích đường lối, nguyên tắc của Đảng Cộng sản Việt Nam (dưới đây sẽ viết tắt là ĐCSVN hoặc Đảng CS) sao cho hợp với thực tiễn. Trong số này đặc biệt có bài viết khá chi tiết của ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Thương mại và hiện nay là một trong những chuyên gia tư vấn nòng cốt của thủ tướng.2 Nhóm thứ hai là những vị có vai trò lãnh đạo trong các cơ quan lý luận, tư tưởng của Đảng CS như Hội đồng Lý luận Trung ương và Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.3 Các bài viết của các vị lãnh đạo lý luận, tư tưởng ấy rất tiếc chỉ khẳng định lại những chủ trương đã cũ, xa rời với thực tiễn, đặc biệt là chỉ tham khảo, trích dẫn Văn kiện Đại hội Đảng và sách kinh điển của chủ nghĩa Mác Lenin, chứ không đọc những nghiên cứu mới, không xét đến những thay đổi trên thế giới và tại Việt Nam. Tuy nhiên qua các bài viết này, ta đọc được lý do tại sao Đảng CS kiên trì muốn duy trì chủ nghĩa xã hội. Đó cũng là lý do có sự khó hiểu trong khái niệm kinh tế thị trường định hướng XHCN. Nhưng dù không có sức thuyết phục, những khẳng định của các vị trong nhóm thứ hai này sẽ còn tiếp tục ảnh hưởng đến quá trình phát triển trong nhiều năm tới của VN nếu Đại hội Đảng sắp tới vẫn kiên trì với lý luận và tư tưởng hiện nay.4

Nếu như vậy thì con đường phát triển của Việt Nam trong tương lai rất đáng lo. Từ bức xúc đó tôi mạnh dạn nêu ý kiến qua bài viết này.

Bài viết này có 3 phần: Một là, sau khi làm rõ các khái niệm chủ nghĩa xã hội, kinh tế thị trường, và thể chế tư bản chủ nghĩa, ta sẽ bình luận về khái niệm kinh tế thị trường định hướng XHCN (Tiết I). Hai là, ôn lại quá trình phát triển kinh tế VN từ khi khái niệm kinh tế thị trường định hướng XHCN được trở thành chủ trương phát triển đất nước của Đảng CSVN, trong đó sẽ cho thấy khái niệm này đã trở thành căn cứ cho những lãnh đạo có óc bảo thủ lấy lý do “chệch hướng” để cản trở quá trình đổi mới, làm cho kinh tế không phát huy hết tiềm năng, bỏ lỡ nhiều cơ hội (Tiết II). Ba là, chủ trương của bài này là Đảng CS không nên và không cần phải dựa vào chủ nghĩa xã hội để khẳng định quyền độc tôn lãnh đạo hiện nay vì mâu thuẫn với thực tế đang diễn ra, mâu thuẫn với hành động và chính sách của chính họ. Trên thực tế Đảng CSVN đang là đảng duy nhất lãnh đạo hiện nay và còn có thể kéo dài trong một thời gian nữa, do đó phải cho thấy trách nhiệm của đảng cầm quyền đối với tương lai đất nước, một tương lai mà mọi người thức thời đang lo lắng khi thấy những thách thức quá lớn hiện nay (Tiết III).

I. Chủ nghĩa xã hội, kinh tế thị trường và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:

Làm rõ các khái niệm

Chủ nghĩa xã hội có 3 thuộc tính cơ bản. Một là xoá bỏ tư hữu, thiết lập chế độ sở hữu công đối với tư liệu, phương tiện sản xuất như tư bản, đất đai. Sở hữu công gồm sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Từ thuộc tính này, những người theo chủ nghĩa xã hội cho rằng xã hội sẽ không có giai cấp bóc lột, xã hội do giai cấp công nhân làm chủ. Hai là nguồn lực kinh tế được quản lý, phân bổ theo kế hoạch của nhà nước, sản xuất và phân phối thực hiện theo chỉ tiêu pháp lệnh, không theo cơ chế thị trường (bị coi là tự phát, vô tổ chức). Ba là làm theo năng lực và hưởng theo lao động, nhưng thường thì lao động chỉ được đánh giá trên thời gian tham gia lao động (điển hình là trong nông nghiệp) chứ không phải chất lượng lao động, và thu nhập của người dân chủ yếu là từ lao động.

Một đặc điểm nữa gắn với chủ nghĩa xã hội là những nước theo thể chế này đều có chế độ chính trị độc đảng, thường là đảng cộng sản độc quyền lãnh đạo. Có thể gọi đây là thuộc tính thứ tư của chủ nghĩa xã hội, nhưng ở đây có thể tạm thời tách ra, vì như sẽ nói dưới đây, trong một giai đoạn nhất định, thể chế chính trị độc đảng không hẳn là mâu thuẫn với sự phát triển của xã hội, của kinh tế. Vấn đề là những người lãnh đạo và bộ máy của thể chế có hoạt động vì lợi ích của đất nước hay không.

Lý luận và thực tiễn đã chứng minh là thể chế xã hội chủ nghĩa với 3 thuộc tính nói trên đã làm trì trệ nếu không nói là phá sản các nền kinh tế theo thể chế đó. Và do đó có cải cách, mở cửa tại Trung Quốc từ cuối năm 1978, đổi mới tại Việt Nam từ cuối 1986, và nỗ lực chuyển sang nền kinh tế thị trường tại Liên xô cũ và Đông Âu từ đầu thập niên 1990. Từ đó một trào lưu nghiên cứu vừa lý luận vừa thực tiễn về sự chuyển đổi thể chế từ nền kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường diễn ra rất sôi nổi trên thế giới.5

Nền kinh tế thị trường mà các nước cần chuyển đổi thể chế nhắm đến có những thuộc tính gì? Đó là các thuộc tính trái ngược với chủ nghĩa xã hội. Thứ nhất, sở hữu tư nhân về tư liệu, phương tiện sản xuất là chủ đạo, cụ thể là doanh nghiệp tư nhân trong và ngoài nước được tự do hoạt động và cạnh tranh nhau trong sản xuất, kinh doanh, ngày càng trở thành nền tảng của xã hội. Thứ hai, sự phân phối các nguồn lực được quyết định bởi thị trường, điều tiết qua cung cầu và cơ cấu giá cả trên thị trường. Thứ ba, thành quả phát triển được phân phối theo hiệu quả đến tất cả các thành phần tham gia, kể cả lao động, nhà kinh doanh, người sở hữu tư liệu sản xuất và các nguồn lực khác.

Chiến lược chuyển đổi thể chế diễn ra không đồng nhất giữa các nước6 nhưng cái đích là nhằm xây dựng nền kinh tế thị trường với 3 thuộc tính nói trên. Cần nói thêm là nền kinh tế thị trường phát triển qua nhiều giai đoạn, từ thấp đến cao, tương ứng với từng giai đoạn phát triển kinh tế của một nước. Thị trường hàng hoá phát triển sớm được trong khi thị trường vốn, thị trường tiền tệ thường cần thời gian chuẩn bị và đi từ đơn giản đến phức tạp. Vai trò của nhà nước trong việc quản lý thị trường cũng thay đổi theo từng giai đoạn.

Một điểm cần nói thêm nữa là các thuộc tính của nền kinh tế thị trường cũng là đặc tính của nền kinh tế theo chủ nghĩa tư bản, trong đó nổi bật nhất là quyền tư hữu tư liệu sản xuất và tự do cạnh tranh. Cũng như kinh tế thị trường, chủ nghĩa tư bản cũng phát triển theo từng giai đoạn, theo đó vai trò của nhà nước cũng thay đổi theo. Ở giai đoạn khởi đầu, nhà nước can thiệp nhiều vào thị trường, kể cả việc thiết lập một số công ty quốc doanh trong một số ngành trọng điểm (trong nhiều trường hợp sau đó được chuyển thành doanh nghiệp tư nhân). Cần nhấn mạnh rằng trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa dù ở giai đoạn nào vai trò của nhà nước vẫn quan trọng. Chỉ kể vài lãnh vực tiêu biểu như cung cấp dịch vụ công (hạ tầng, y tế, giáo dục, …) , ổn định vĩ mô, duy trì và cải thiện môi trường pháp lý, thực hiện an sinh xã hội, tái phân phối thu nhập, v.v.. đủ thấy sự quan trọng đó. Tuy nhiên, dù ở giai đoạn nào, doanh nghiệp tư nhân vẫn nắm vai trò chủ đạo. Vai trò quan trọng của nhà nước là tạo môi trường, tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân phát triển.7

Bây giờ bàn đến vấn đề nêu trong đầu đề bài viết này. Dự thảo Báo cáo Chính trị Đại hội toàn quốc lần thứ XII (dưới đây gọi tắt là Dự thảo Báo cáo XII) của Đảng CSVN (dự kiến tổ chức vào đầu năm 2016) lần đầu tiên đưa ra định nghĩa chính thức về khái niệm “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. (Đảng Cộng sản Việt Nam 2015, người trích dẫn viết chữ nghiêng).

So sánh nền kinh tế thị trường phổ biến tại các nước tư bản chủ nghĩa với nội dung của “Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN” ta thấy giống nhau ở những điểm như “nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường”8, “nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của nhà nước”. Còn về những điểm khác nhau, hay nói khác hơn những điểm chỉ có trong định nghĩa của Việt Nam, đó là “đồng thời bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”, “nền kinh tế thị trường…có sự quản lý của nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng CS VN lãnh đạo”. Mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh thì nước nào cũng hướng đến, không riêng VN.

Nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước thì ở các nước tư bản cũng chủ trương như vậy, nhưng được quản lý bởi “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” thì chỉ có ở Việt Nam. “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” là thuật ngữ xuất hiện thường xuyên khi nói về “nhà nước” ở Việt Nam nhưng không được giải thích rõ. Về lý do tại sao phải “do Đảng CS lãnh đạo” thì Dự thảo Báo cáo XII không đề cập nhưng bài viết của ông Trương Đình Tuyển giải thích là để duy trì sự ổn định của chính sách làm cho dân giàu nước mạnh dân chủ công bằng văn minh. Ông cho rằng ở các nước đa đảng khi thay đổi chính phủ thì chính sách cũng thay đổi nên không ổn định. Giải thích này không có sức thuyết phục, vì nếu đảng cầm quyền có chính sách hợp với lợi ích của đa số người dân thì sẽ tiếp tục được bầu lại.9 Trên thực tế trên thế giới cho đến nay chưa có nước nào theo chế độ độc đảng đã thực hiện được lý tưởng dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.

Trong định nghĩa về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN còn một điểm nữa chưa rõ, đó là “bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”. Mỗi giai đoạn thì định hướng phải khác? Rất tiếc bài viết của ông Tuyển và ý kiến trả lời phỏng vấn của nhiều vị trong chính phủ gần đây, cũng như Dự thảo Báo cáo Chính trị Đại hội XII không nói rõ điểm này.

Ở đây có thể hiểu là cái đích của định hướng là “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” nhưng mỗi giai đoạn có chiến lược khác. Dĩ nhiên ở mỗi giai đoạn phát triển của một nước, chính sách, chiến lược kinh tế phải khác. Nhưng ở đây cần phải hiểu ý nghĩa phù hợp với từng giai đoạn trong văn mạch định hướng XHCN. Tôi thử tìm đọc các văn kiện chính thức và các bài viết (nói ở chú thích số 2) của lãnh đạo lý luận và tư tưởng trong Đảng CSVN. Chẳng hạn trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa XH (bổ sung phát triển năm 2011) của Đảng CSVN thì thấy “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối… Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và mở rộng. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”.10

Dự thảo Báo cáo XII vẫn giữ nội dung của Cương lĩnh này nên có thể hiểu thế này: Mục tiêu của Đảng CS vẫn là xây dựng chủ nghĩa xã hội, một thể chế có thuộc tính cơ bản về quan hệ sản xuất là kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, và mục tiêu là làm cho dân giàu nước mạnh…Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn được gọi là quá độ lên chủ nghĩa xã hội, các hình thái sở hữu khác như tư nhân, vốn nước ngoài,… được cho phép hoạt động, nhưng dần dần phải nhường vị trí chủ đạo cho hình thái sở hữu nhà nước và tập thể. Các bài viết của một số lãnh đạo lý luận và tư tưởng của Đảng CS (giới thiệu trong chú thích 2) cũng khẳng định điều này.

Trong Dự thảo Báo cáo Chính trị XII nhấn mạnh xây dựng nền kinh tế “nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật” nhưng câu này có hai ý mâu thuẫn nhau: Làm sao vừa để kinh tế nhà nước chủ đạo vừa để các chủ thể bình đẳng và cạnh tranh theo pháp luật?

II. Kinh tế thị trường định hướng XHCN và kinh tế VN trong hơn 20 năm qua:

Tuy tên gọi chính thức được dùng từ năm 2001, kinh tế thị trường định hướng XHCN đã được quyết định thành đường lối phát triển đất nước từ năm 1994, nghĩa là đã hơn 20 năm. Vậy trong thời gian gần một thế hệ vừa qua, chiến lược, phương châm này đã chứng tỏ tính ưu việt của mình chưa? Nếu chưa thì tại sao? Và cơ sở nào để tin rằng trong tương lai tính ưu việt đó sẽ được phát huy? Rất tiếc chưa thấy có phân tích khoa học của các nhà lý luận trong Đảng CS về các vấn đề này. Một vài bài viết của các nhà lý luận trong Đảng khẳng định thành quả của đổi mới và cho rằng thành quả đó có được là do sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, là kết quả của chủ trương kinh tế thị trường định hướng XHCN. Tuy nhiên, theo tôi, khách quan mà nói, thành quả của đổi mới có được là do Đảng đã xa rời chủ nghĩa xã hội, đi về hướng kinh tế tư bản chủ nghĩa,11 theo như các định nghĩa nói ở Tiết I. Nhưng sự xa rời chủ nghĩa xã hội chỉ là tạm thời trên sách lược (trong thời quá độ), không dứt khoát, muốn xoay hướng trở lại theo chủ nghĩa xã hội nên thành quả phát triển không những bị hạn chế mà còn để lại những vấn đề nan giải như sẽ nói ở Tiết III.

Đổi mới đã đưa Việt Nam thoát khỏi bẫy nghèo và trở thành nước có thu nhập trung bình thấp từ năm 2008. GDP đầu người theo giá trị thực tế đã tăng 3,5 lần trong giai đoạn từ 1986 đến 2011. Cơ cấu kinh tế cũng chuyển dịch một bước quan trọng từ nông sang công nghiệp. Không ai phủ nhận được thành quả của đổi mới. Nhưng so với kinh nghiệm của các nước châu Á và so với tiềm năng của Việt Nam, kể cả những thời cơ rất thuận lợi đã đến với chúng ta, thành quả phát triển của Việt Nam có thể nói là rất khiêm tốn, không tương xứng với điều kiện thuận lợi và tiềm năng. Ngoài ra nền kinh tế hiện nay có những yếu kém như sức cạnh tranh của nền công nghiệp yếu, mục tiêu công nghiệp hoá hiện đại hoá còn rất xa, ngày càng dựa vào FDI và phụ thuộc nhiều vào kinh tế Trung Quốc. Đó là chưa kể những mặt ngoài kinh tế như giáo dục, văn hoá, đạo đức xã hội, tất cả đều xuống cấp trầm trọng.

Nhật Bản trong giai đoạn 1955-73, Đài Loan trong giai đoạn 1962-89, Hàn Quốc trong giai đoạn 1966-88 đều đạt được tốc độ tăng trưởng rất cao (trung bình trên dưới 10%) trong thời gian dài. Họ có một số những đặc điểm chung. Thứ nhất, vì là những nước đi sau trong quá trình công nghiệp hoá, nên tận dụng được lợi thế của nước đi sau trong việc du nhập công nghệ, tư bản từ các nước tiên tiến. Thứ hai, giai đoạn phát triển ấy trùng hợp giai đoạn có cơ cấu dân số vàng (tỉ lệ của người trong độ tuổi lao động trong tổng dân số tiếp tục tăng), thuận lợi cho phát triển. Thứ ba, nhà nước quan tâm không ngừng đầu tư cho giáo dục, công nghệ, nhờ đó phát huy được hiệu quả của 2 đặc điểm đầu tiên.

Thứ tư, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa được xây dựng và hoàn thiện, ở giai đoạn đầu có tồn tại nhiều doanh nghiệp quốc doanh nhưng doanh nghiệp dân doanh giữ vai trò chủ đạo. Ngày nay những công ty của Nhật nổi tiếng thế giới như Toyota, Sony, Honda, Hitachi, Shiseido, v.v.. hoặc của Hàn Quốc như Sam Sung, Hyundai, v.v.. đều là công ty tư nhân. Thứ năm, vào thời điểm chuẩn bị bước vào giai đoạn phát triển cao, các nước đều có những người lãnh đạo thức thời, có hoài bão đưa đất nước lên hàng quốc gia thượng đẳng, và có một đội ngũ quan chức năng lực, đầy tinh thần trách nhiệm. Đây là tiền đề để đưa ra các chiến lược, chính sách đúng đắn và thực thi có hiệu quả.

Trong 5 yếu tố nói trên, hai yếu tố đầu tiên là khách quan và trong thời gian hơn 20 năm qua, Việt Nam ít nhất cũng có 2 yếu tố ấy. Nhưng dù có 2 yếu tố thuận lợi đó, suốt từ khi có đổi mới tới nay chưa có năm nào Việt Nam phát triển đến 10%, phát triển 8-9% cũng chỉ có tất cả 9 năm (1992-97 và 2005-07). Nền công nghiệp thì cạnh tranh quốc tế yếu, phụ thuộc nhiều vào FDI, phụ thuộc vào Trung Quốc, công nghiệp hỗ trợ không phát triển, v.v.. Cần nói thêm ở đây nữa là trong thời gian Việt Nam tiến hành đổi mới, công nghiệp hoá tại châu Á, đặc biệt tại Thái Lan, Malaysia và Trung Quốc, tiến rất nhanh.12 Việt Nam đã bỏ mất nhiều thời cơ trong giai đoạn đó.

Ngoài ra, Việt Nam phát triển vừa không cao vừa kém hiệu suất13 và kéo theo sự phân tầng xã hội đáng lo ngại. Sự phân hoá giàu nghèo ở Việt Nam trầm trọng ở chỗ tầng lớp giàu với tài sản và lối sống ở mức độ vượt quá tưởng tượng tại một nước có thu nhập đầu người chỉ độ 2.000 USD (xếp thứ 131 trên thế giới vào năm 2013!) và sự giàu có đó phát sinh không phải do nỗ lực kinh doanh, khám phá thị trường hay công nghệ mà do tham nhũng, do quan hệ với người có quyền.

Nguyên nhân của tình trạng nói trên là gì? Cần một nghiên cứu sâu, hoàn chỉnh mới giải thích hết tình trạng nói trên. Ở đây tôi chỉ bàn về nguyên nhân tại sao kinh tế không phát triển hết tiềm năng, nhìn từ 5 yếu tố làm cho các nước Đông Á thành công. Như đã nói, trong 5 yếu tố thuận lợi cho phát triển thì Việt Nam đã có hai. Hai yếu tố cuối cùng có tính cách quyết định thì Việt Nam bị vướng vào đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Khi quyết định đổi mới, dù biết là phải bỏ cơ chế quan liêu bao cấp, bỏ cơ chế quản lý theo chỉ tiêu, pháp lệnh, cho phép tư bản tư nhân kể cả tư bản nước ngoài sản xuất kinh doanh nhưng Đảng CSVN vẫn tránh dùng cụm từ “kinh tế thị trường” mà gọi là nền “kinh tế hàng hoá”. Như đã nói, đến năm 1994, Đảng CS mới chính thức dùng khái niệm “cơ chế thị trường” (“kinh tế thị trường” từ năm 2001) nhưng thêm vào thuộc tính “định hướng XHCN”. Dù hệ thống chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên xô sụp đổ trong các năm 1989-91, VN vẫn chủ trương duy trì chủ nghĩa xã hội.

Mặt khác, dù bắt đầu đổi mới, kinh tế vĩ mô tiếp tục bất ổn trong thời gian sau đó, kéo dài đến đầu thập niên 1990. Về sản xuất, nông nghiệp gia tăng nhanh sau Khoán 10 (1988) nhưng công nghiệp chưa phát triển dù đã có Luật đầu tư nước ngoài (1987) và Luật doanh nghiệp (1990). Bước chuyển mới bắt đầu từ giữa năm 1992 khi vĩ mô được ổn định và quan hệ với các nước tư bản tiên tiến bắt đầu hồi phục, viện trợ của Nhật được nối lại, năm sau đó thì Ngân hàng thế giới và các tổ chức quốc tế khác cũng tích cực hỗ trợ cho VN. Với bối cảnh đó, đầu tư nước ngoài tăng mạnh và doanh nghiệp tư nhân trong nước cũng bắt đầu hình thành. Nhưng sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa làm cho những người bảo thủ trong Đảng Cộng sản VN lo ngại, sợ mất chủ nghĩa xã hội. Trong Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII (1/1994) Đảng CS đã cảnh báo và đặc biệt lo lắng về nguy cơ chệch hướng XHCN, coi đây là nguy cơ lớn nhất trong bốn nguy cơ. Ngược lại những lãnh đạo có óc thức thời, cải cách, như Thủ tướng Võ Văn Kiệt (đương thời) thì cho rằng nguy cơ tụt hậu mới đáng lo. Tuy nhiên nhìn chung thì phái bảo thủ thắng thế nên Việt Nam đã bỏ lỡ nhiều cơ hội từ năm 1993.

Thái độ không dứt khoát chuyển sang kinh tế thị trường đã làm quá trình cải cách diễn ra quá chậm, ảnh hưởng nhiều đến sự hình thành và phát triển của khu vực dân doanh là chủ thể năng động nhất tại các nước phát triển nhanh. Chẳng hạn chính sách đổi mới quyết định năm 1986 chủ trương đa dạng hoá chế độ sở hữu tư liệu sản xuất nhưng đến năm 1990 mới có Luật doanh nghiệp trong đó thừa nhận sự tồn tại của doanh nghiệp tư nhân. Tuy nhiên đó chỉ mới thừa nhận, phải đợi đến năm 1999 mới có Luật doanh nghiệp mới, cho phép doanh nghiệp tư nhân đầu tư trong mọi lãnh vực mà luật không cấm. Nhưng sau đó, do phương châm quốc doanh chủ đạo, hoạt động của doanh nghiệp tư nhân cho đến hiện nay vẫn gặp khó khăn.

Nói cụ thể hơn, doanh nghiệp tư nhân, khu vực năng động trong cách tân công nghệ tại các nước theo kinh tế thị trường, không có điều kiện phát triển lành mạnh vì phí tổn hành chánh cao, vì không được bình đẳng với doanh nghiệp nhà nước (SOEs) trong việc tiếp cận vốn, đất đai và thông tin. Quan trọng hơn, với viễn ảnh của đường lối định hướng XHCN, doanh nghiệp dân doanh không có động cơ đầu tư lớn và dài hạn vì sợ sẽ trở thành đối tượng bị xử lý trong tương lai.14 Thái độ coi thường hoặc cảnh giác với doanh nghiệp tư nhân còn phản ảnh trong tranh luận về vấn đề đảng viên có được làm kinh tế tư nhân có thuê lao động hay không, xem như kinh tế tư nhân là thành phần bóc lột lao động, đi ngược lại lý tưởng của đảng viên cộng sản.15

Chủ trương nền kinh tế thị trường định hướng XHCN cũng đã ảnh hưởng đến khu vực kinh tế quốc doanh. Phương châm kinh tế nhà nước chủ đạo tiếp tục ưu đãi SOEs, làm chậm những cải cách cần thiết để chuyển nhiều SOEs sang hình thái sở hữu khác có hiệu quả hơn hoặc làm cho hoạt động của những SOEs còn lại có hiệu quả hơn.

Ngoài ra, từ thập niên 1990 đến giữa thập niên 2000, chính sách FDI nói chung là nhằm hạn chế hoạt động của doanh nghiệp có vốn nước ngoài và luôn thay đổi nên đã đánh mất nhiều cơ hội đẩy mạnh công nghiệp hoá.16

Chính thái độ không dứt khoát trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường phản ảnh trên những điểm vừa nói đã làm mất nhiều thì giờ trong việc xây dựng hành lang pháp lý và làm cho môi trường đầu tư luôn mất ổn định. Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư nước ngoài thay đổi thường xuyên, 4-5 năm lại thay đổi luật mới và giữa các giai đoạn đó lại có nhiều sửa đổi các điều khoản.

Chủ trương định hướng XHCN và lo sợ chệch hướng kéo dài suốt từ đầu thập niên 1990 đến nay. Những năm cuối đời cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt vẫn còn băn khoăn về nguy cơ tụt hậu trước tình trạng chung trong Đảng CS là sợ chệch hướng. Vào năm 2005, trong bản Đóng góp ý kiến vào Báo cáo tổng kết lý luận và thực tiễn hai mươi năm đổi mới, ông viết: “Bây giờ chúng ta không thể chỉ đặt ra vấn đề của VN như chuyện trong nhà, mà là chuyện ganh đua với thế giới để tồn tại và phát triển… Thách đố trước mắt là phải phát triển nhanh và bền vững, hội nhập trong độc lập, đi tiếp trong nhịp chung của thế giới, làm sao không vấp ngã, không tụt hậu. (…) Cần phải trân trọng những cái mới, phải khuyến khích những tìm tòi, những hướng đi mới, không nên khư khư giữ nếp cũ hoặc thoả mãn với những gì làm được. Nếu chỉ sợ chệch hướng theo một đánh giá nào đó thì thực tế cầm chắc sẽ là tụt hậu. Chẳng lẽ phải đuổi kịp với thiên hạ là chệch hướng, để đất nước tụt hậu ngày càng xa là đúng hướng”.

Cùng là hai quốc gia có cùng thể chế chính trị nhưng VN rất khác Trung Quốc. Việt Nam bị giáo điều của ý thức hệ xã hội chủ nghĩa chi phối, còn Trung Quốc thì trên nguyên tắc họ cũng có chủ trương xây dựng kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa hay kinh tế thị trường mang mầu sắc Trung Quốc, nhưng trên thực tế họ theo chủ nghĩa phát triển.

Chủ nghĩa phát triển (developmentalism) nguyên nghĩa là sự can thiệp mạnh mẽ của nhà nước vào thể chế thị trường để động viên các nguồn lực vào mục tiêu đẩy mạnh phát triển và với thành quả đó khẳng định sự chính thống của người đang lãnh đạo đất nước. Ba yếu tố cốt lõi của chủ nghĩa phát triển thường thấy ở nhiều nước thành công ở châu Á như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore là độc tài nhưng yêu nước, kinh tế thị trường và tinh thần dân tộc.17 Áp dụng khái niệm này vào trường hợp một nước theo thể chế xã hội chủ nghĩa chuyển sang kinh tế thị trường, đó là sự mạnh dạn tạo điều kiện cho kinh tế thị trường phát triển, cho doanh nghiệp tư nhân lớn mạnh. Điểm mấu chốt của chủ nghĩa phát triển ứng dụng cho trường hợp này là không để ý thức hệ (chủ nghiã xã hội) níu kéo khả năng phát triển.

Có thể nói lãnh đạo của Trung Quốc đã dứt khoát theo chủ nghĩa phát triển. Tuy đề ra chủ trương xây dựng kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa nhưng trên thực tế hầu như họ gác lại một bên lý tưởng đó mà tập trung phát triển lực lượng sản xuất. Cụ thể là cho kinh tế tư nhân tự do phát triển và tạo điều kiện thuận lợi cho nước ngoài đến đầu tư trục tiếp (FDI). Trong thập niên 1980, phe bảo thủ còn mạnh nhưng phe cải cách đã theo phương châm “Thực tiễn là thước đo chân lý” lấy thành quả cải cách bước đầu thuyết phục được những người bảo thủ và tiếp tục cải cách. Khi thấy khu vực phi quốc doanh phát triển mạnh, và thành hình một giới lãnh đạo doanh nghiệp mới, thay vì kìm hãm họ để bảo vệ lý tưởng vì giai cấp công nông, Trung Quốc đã đưa ra thuyết Ba đại diện (năm 2002) để tu chỉnh lý tưởng, mục tiêu của Đảng cộng sản.

Khác với Trung Quốc, Việt Nam không theo chủ nghĩa phát triển mà thường để ý thức hệ chính trị chi phối quá trình cải cách, điển hình là trong tranh luận vào giữa thập niên 1990 về 4 nguy cơ mà Việt Nam đang trực diện, giới bảo thủ đã thắng thế với chủ trương nguy cơ “chệch hướng chủ nghĩa xã hội” đáng lo hơn là “nguy cơ tụt hậu”.

III. Trách nhiệm đối với tương lai đất nước:

Việt Nam đang đối diện những thách thức gì?
Những người thức thời thật sự lo cho tương lai đất nước không ai không lo lắng cho hiện trạng xã hội, văn hoá, giáo dục, đạo đức ở Việt Nam. Ở đây tôi chỉ nói về một số thách thức về mặt kinh tế.18

Thứ nhất là nguy cơ chưa giàu đã già. Một vấn đề ít được nhận diện, vì tiến hành âm thầm, chậm rãi, là sự thay đổi của cơ cấu dân số theo hướng lão hoá. Vấn đề này diễn ra chậm chạp nhưng khắc nghiệt vì khi đã thành hiện thực thì khó có thể đối phó được nữa. Trước giai đoạn lão hoá là thời đại dân số vàng. Giai đoạn này nếu không có chiến lược, chính sách phát triển nhanh để đất nước giàu lên trước khi cơ cấu dân số thay đổi thì chắc chắn sẽ trực diện với bi kịch chưa giàu đã già. Việt Nam đang đứng trước thách thức này. Theo nhiều phân tích về cơ cấu dân số, giai đoạn có cấu dân số vàng của Việt Nam kéo dài từ năm 1970 đến năm 2020 (hoặc 2025). Khi chấm dứt cơ cấu dân số vàng thu nhập đầu người của Nhật Bản (năm 1992) là 30.000 USD (tính theo giá năm 2005), của Hàn Quốc (năm 2010) là 20.000 USD. Còn thu nhập đầu người của VN vào năm 2025 là bao nhiêu? GDP đầu người hiện nay của VN độ 2000 USD, nếu tính theo giá năm 2005 thì khoảng 1000 USD. Nếu từ nay đến năm 2025 dù mỗi năm kinh tế phát triển 8% thì năm 2025 thu nhập đầu người (theo giá năm 2005) chỉ độ 2.000 USD hoặc 3.000 (tùy theo tỉ giá), chỉ bằng 1/10 của Hàn Quốc hay Nhật Bản ở thời điểm tương ứng.19 Lãnh đạo của VN phải thấy hết nguy cơ này. Nếu sa vào bẫy thu nhập trung bình thấp như sẽ nói ở phần sau thì thu nhập đầu người sẽ nhỏ hơn rất nhiều.

Thứ hai là đầu tư nước ngoài (FDI) có thể dẫn đến nguy cơ phân hoá nền kinh tế. Kinh tế Việt Nam đang tùy thuộc nhiều vào FDI, không phải chỉ xét trên các chỉ tiêu như tỉ lệ sản xuất công nghiệp (FDI chiếm 50% năm 2014) hay xuất khẩu (70% năm 2014) mà còn trên cơ cấu sở hữu của doanh nghiệp có vốn nước ngoài (phần lớn là 100% vốn ngoại) và sự gắn kết rất yếu giữa FDI với doanh nghiệp trong nước. Lý do chính gây ra hiện tượng này là doanh nghiệp trong nước quá yếu, khó có thể trở thành đối tác để doanh nghiệp nước ngoài lập liên doanh và không có khả năng cung cấp những linh kiện, những mặt hàng trung gian cho doanh nghiệp FDI. Một lý do khác là do nhà nước Việt Nam không có chính sách chọn lựa FDI phù hợp với hướng phát triển lâu dài cần có của đất nước. Nếu tình trạng này không thay đổi, nền kinh tế Việt Nam sẽ bị phân hoá thành hai khu vực riêng biệt. Khu vực FDI và khu vực của doanh nghiệp bản xứ không kết hợp thành một thể thống nhất của nền kinh tế quốc dân. Công nghệ và tri thức kinh doanh của FDI không lan toả đến cả nền kinh tế. Đây là một trong những thách thức lớn của kinh tế Việt Nam hiện nay.20

Thứ ba là thách thức trước bẫy thu nhập trung bình thấp. Thu nhập đầu người của Việt Nam đã vượt ngưỡng 1.000 USD vào năm 2008 (và hiện nay khoảng 2.000 USD), trở thành nước có thu nhập trung bình theo tiêu chuẩn của Ngân hàng thế giới. Thật ra, theo định nghĩa, mức thu nhập trung bình có phạm vi rất rộng, khoảng từ 1.000 đến 12.000 USD, nhưng các nhà nghiên cứu khi bàn về bẫy thu nhập trung bình chỉ khảo sát những nước có mức thu nhập 5.000 USD hoặc cao hơn. Nói cách khác, nếu các nước có thu nhập trung bình được chia thành hai tiểu nhóm thì vấn đề bẫy thu nhập trung bình cho đến nay chỉ liên quan đến các nước thu nhập trung bình cao. Trường hợp các nước thuộc tiểu nhóm trung bình thấp như Việt Nam thì thế nào?

Tôi đã phân tích 2 loại bẫy thu nhập trung bình và kết luận như sau: Trong khi vấn đề của các nước có thu nhập trung bình cao như Malaysia và Thái Lan là đẩy mạnh chính sách cách tân công nghệ và đào tạo nhân tài để duy trì cạnh tranh quốc tế để tránh bẫy thu nhập trung bình, còn đối với những nước ở mức thu nhập trung bình thấp như Việt Nam, lao động dư thừa còn nhiều, dư địa để dùng vốn đầu tư còn lớn nên vấn đề cốt lõi ở đây là làm sao để cho thị trường các yếu tố sản xuất như lao động, vốn và đất đai phát triển lành mạnh, qua đó các yếu tố này sẽ được sử dụng có hiệu suất, giúp cho nền kinh tế tiếp tục phát triển đến mức thu nhập trung bình cao. Khi các thị trường này không phát triển lành mạnh, vì bị các nhóm lợi ích chi phối, bị nạn tham nhũng hoành hành thì kinh tế trì trệ và đất nước có thể rơi vào bẫy thu nhập trung bình thấp.21

Từ góc độ này ta thấy rất lo cho tình hình Việt Nam hiện nay. Nếu không cải cách mạnh mẽ, đặc biệt là nếu không giải quyết triệt để nạn tham nhũng đã đến mức trầm trọng nhất ở Đông Nam Á, có thể Việt Nam sẽ rơi vào bẫy thu nhập trung bình thấp.22

Hình ảnh Việt Nam trên vũ đài thế giới sẽ ra sao?
Ngoài 3 thách thức đã nói, còn hai vấn đề liên quan đến hình ảnh của Việt Nam trên vũ đài thế giới.

Thứ nhất là vấn đề xuất khẩu lao động và hình ảnh của Việt Nam trên thế giới. Lao động xuất khẩu phản ảnh trình độ, vị trí và uy tín của một nước trên vũ đài quốc tế. Một nước xuất khẩu nhiều lao động giản đơn hầu hết, nếu không nói là tất cả, là những nước nghèo, và do đó hình ảnh của những nước này không mấy sáng sủa. Tại Việt Nam, không kể thời kỳ quan hệ mật thiết với các nước Đông Âu, xuất khẩu lao động tăng nhanh từ cuối thập niên 1990 và chủ yếu sang các nước Đông Á. Từ năm 2001, bình quân mỗi năm có 7 vạn, gần đây là 9 vạn, lao động được đưa đi ra nước ngoài. Báo chí đã phản ảnh tình trạng khó khăn, nhiều trường hợp rất bi thảm, của người lao động đang làm việc ở nước ngoài.

Do tích cực đầu tư sang Việt Nam, hiện nay (cuối năm 2014) số người Hàn Quốc sinh sống tại nước ta lên tới hơn 15 vạn. Ngược lại, tại Hàn Quốc hiện nay (cuối năm 2012) có hơn 12 vạn người VN đang sinh sống, trong đó gần 26.000 người cư ngụ bất hợp pháp. Ngoài vài ngàn người là sinh viên du học, hầu hết người Việt tại Hàn Quốc là lao động giản đơn hoặc phụ nữ kết hôn với người bản xứ mà theo nhiều nguồn tin trong đó một số không nhỏ đi làm dâu xa vì lý do kinh tế. Như vậy có sự tương phản trong quan hệ Việt Hàn: người Hàn Quốc đến Việt Nam là để làm chủ trong khi người Việt Nam đến Hàn Quốc là để làm thuê. Người Hàn Quốc làm chủ người Việt Nam vừa ở nước họ vừa ở ngay nước ta. Người Việt làm thuê cả ở xứ mình và xứ ngưới. Trách nhiệm của lãnh đạo chính trị là sớm chấm dứt một tình trạng liên quan đến thể diện quốc gia này.

Thứ hai là vị trí của Việt Nam trên vũ đài thế giới. Làm sao để đưa Việt Nam lên thành một quốc gia quan trọng trên bản đồ kinh tế và chính trị thế giới? Hiện nay về dân số, Việt Nam xếp thứ 14 trên thế giới. Về trình độ phát triển, phải xét nhiều tiêu chí. Tiêu chí tổng hợp nhất là thu nhập đầu người. Tiêu chí này cũng còn nhiều hạn chế nhưng nhìn chung cũng phản ảnh được trình độ phát triển của một nước. Vào năm 2013, thu nhập (GDP) đầu người của Việt Nam là 1.911 USD, xếp thứ 131 trong gần 200 nước lớn nhỏ trên thế giới. Vì dân số tương đối đông nên vị trí của GDP (năm 2013 là 171 tỉ USD) cao hơn nhưng cũng chỉ ở hạng 57. Tại vùng Đông Á hiện nay, GDP đầu người của Việt Nam chỉ cao hơn Cambodia, Lào và Myanmar. Nếu muốn GDP cũng ở vị trí khoảng thứ 14 như quy mô dân số thì Việt Nam cần độ 900 tỉ USD (GDP đầu người khoảng 10.000 USD). Đưa ra một dự phóng tương lai với cái mốc GDP 1000 tỉ và GDP đầu người 10.000 USD vào thời điểm dân số tăng lên 100 triệu và kèm theo những chiến lược cần thiết để thực hiện sẽ gây ra một sự tin tưởng và cảm khái lành mạnh trong dân chúng.

Nhìn lại thời gian từ khi đất nước thống nhất đến nay ta thấy đã 40 năm. Nếu so với tình trạng thiếu ăn trong khoảng 10 năm đầu và còn tới 70% dân số thuộc hộ nghèo vào cuối thập niên 1980 thì tình hình hiện nay đã cải thiện vượt bậc. Nhưng để có được sự cải thiện đó Việt Nam đã mất quá nhiều thời gian, và như ta đã thấy vị trí hiện nay trên vũ đài thế giới còn rất thấp. Hàn Quốc lúc chấm dứt chiến tranh Triều Tiên (1953) là một trong những nước nghèo nhất thế giới, nhiều người dân phải gọt vỏ thông luộc ăn cho đỡ đói. Nhưng chỉ 43 năm sau họ phát triển thành nước thu nhập cao và trở thành thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), thường được gọi là câu lạc bộ của các nước giàu. Vị thế của họ sau đó cũng tăng nhanh như ta đã thấy.

Nhật Bản, Hàn Quốc và nhiều nước khác đã làm được những kỳ tích trong phát triển, biến đất nước thành quốc gia thượng đẳng, đưa lại vinh dự, tự hào cho dân tộc. Chẳng lẽ Việt Nam cam chịu là một đất nước đông dân nhưng chỉ phát triển với tốc độ trung bình như hiện nay? Gần đây những dự báo về kinh tế ASEAN của Ngân hàng phát triển Á châu (ADB) hay của Cơ quan hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) cho rằng Việt Nam sẽ phát triển ở tốc độ cao hơn nhiều nước trong khối (chỉ vì là nước đi sau nên dễ phát triển với tốc độ cao hơn). Nhưng vì trình độ phát triển hiện nay quá thấp nên vị trí của VN trong tương lai không thay đổi bao nhiêu. Theo ADB, từ nay đến năm 2030, Việt Nam phát triển trung bình 7,2%, và GDP vào năm 2030 là 416 tỉ USD, chỉ bằng 40% của Thái Lan, 17% của Indonesia và nhỏ hơn Malaysia và Philippines. Dự báo này dựa trên tiền đề không có những cải cách lớn về thể chế. Như vậy ta đã thấy để cải thiện hình ảnh, vị trí của VN trên thế giới thì Việt Nam hiện nay phải phát triển nhanh hơn (dĩ nhiên phải đi đôi với bền vững, phải hài hoà với thiên nhiên và xã hội) và để được như vậy phải có những thay đổi lớn về tư duy, về thể chế.

Kinh tế thị trường định hướng XHCN giải quyết như thế nào trước những thách thức hiện nay và thay đổi được hình ảnh, vị trí của VN trên thế giới?
Lãnh đạo Đảng CS, nhất là các vị phụ trách lý luận và đường lối phát triển, cần phân tích và đưa ra các chính sách cụ thể để đối phó với ba thách thức và hai vấn đề thuộc thể diện quốc gia nói trên. Như đã nói, những bài viết của các vị phụ trách lý luận hầu hết khẳng định con đường phát triển phải là chủ nghĩa xã hội mà không chứng minh con đường đó sẽ giải quyết được những vấn đề mà toàn dân đang bức xúc hiện nay. Nhiều bài viết này còn cho rằng chủ nghĩa tư bản bản chất là bóc lột lao động và sẽ cáo chung như dự báo của Mác hồi giữa thế kỷ 19, và quên rằng mình đang tiếp tục nhận viện trợ từ những nước tư bản, gửi con em sang du học tại những nước đó, và trong số du học sinh ấy có rất nhiều người muốn định cư lâu dài ở những nước theo chế độ mà các vị phê phán. Có thể kể ra nhiều mâu thuẫn khác nữa trong nhận định của những nhà lý luận trong Đảng CS. Chẳng hạn phê phán chủ nghĩa tư bản nhưng lại tìm cách kêu gọi giới tư bản đến đầu tư và hiện nay trong công tác bồi dưỡng cán bộ nguồn, Đảng CS thường gửi các đoàn đi tham quan, học tập kinh nghiệm tại các nước tư bản tiên tiến.23

Đời sống công nhân, lao động ở VN như thế nào đã được phản ảnh nhiều trên mặt báo. Đó cũng là hiện tượng mâu thuẫn với cương lĩnh của đảng đại diện cho giai cấp công nhân. Ở các nước tư bản, đời sống của giới lao động đã khác xa so với thời Marx viết Tư bản luận. Vào năm 1870 (cùng thời với sự ra đời của bộ Tư bản luận ), tại Mỹ người lao động mỗi tuần phải làm việc trung bình 61 tiếng trong điều kiện khắc nghiệt và thời đó dĩ nhiên không có chế độ nghỉ hưu khi về già. Bây giờ số giờ làm việc của người lao động là 33 giờ/tuần trong điều kiện hoàn toàn khác và trung bình họ được nghỉ ngơi ít nhất 10 năm trong tuổi xế chiều. Trung bình một công nhân Mỹ vào năm 1958 cần làm 333 giờ mới mua được một cái tủ lạnh. Đến năm 2012 người công nhân ấy chỉ cần làm độ 60 giờ là có thể mua được cái tủ lạnh tốt hơn.24 Nhiều sự kiện tương tự có thể thấy ở các nước tư bản khác. Gần đây ở Nhật có một hiện tượng rất thú vị là những công ty lo cho cuộc sống của công nhân viên qua việc tăng tiền lương và cải thiện chế độ phúc lợi thì giá chứng khoán có khuynh hướng tăng (theo báo Nikkei 13/3/2015). Trước đây, vào năm 2007, những doanh nghiệp tuyên bố sẽ tăng tiền lương khởi đầu cho công nhân viên thì lập tức giá chứng khoán tăng (Nikkei 20/4/2007). Điều đó cho thấy doanh nghiệp nào lo cho đời sống của công nhân thì được đánh giá vì tin rằng những công ty ấy sẽ thu hút được nhiều lao động chất lượng tốt và với nguồn nhân lực ngày càng được chú trọng đó chắc chắn sẽ phát triển. Các công ty phải cạnh tranh với nhau trong việc thu hút nguồn lao động chất lượng và kết quả là đời sống người lao động được cải thiện.

Ở đây không có điều kiện bàn sâu hơn vấn đề này. Tôi chỉ tóm lược thêm vài điểm. Thứ nhất, tại các nước tư bản chủ nghĩa ngày nay, đã có sự phân ly giữa tư bản và kinh doanh, mà cả hai thành phần đã đại chúng hoá ở mức cao. Thông qua thị trường chứng khoán, mọi người dân đều trở thành chủ sở hữu công ty. Dĩ nhiên trên thực tế không phải ai cũng có khả năng mua nhiều chứng khoán của các công ty nhưng khác với thời thế kỷ 19 hay đầu thế kỷ 20, ngày nay ít có trường hợp một thiểu số cá nhân có thể thâu tóm, sở hữu và khống chế hoạt động của các công ty lớn. Còn giới lãnh đạo kinh doanh thì bất cứ ai có tài đều có thể ở vào các vị trí đó. Một công nhân có trình độ học vấn và có năng lực quản lý có thể trở thành tổng giám đốc hoặc thành viên trong ban giám đốc của các công ty, kể cả các công ty lớn. Hoặc nếu họ không có khả năng vì trình độ học vấn có giới hạn thì con em của họ có thể thay đổi vị trí xã hội của gia đình một cách dễ dàng.

Thứ hai, kinh tế thị trường hay chủ nghĩa tư bản dĩ nhiên không hoàn hảo, còn có nhiều mặt tiêu cực, đặc biệt là sự phân hoá giàu nghèo đang là vấn đề nổi cộm, nhưng xã hội luôn nêu ra các vấn nạn và tìm các giải pháp khắc phục. Vai trò của các học giả, các nhà nghiên cứu rất quan trọng trong việc khắc phục những hạn chế của kinh tế thị trường, của chủ nghĩa tư bản. Nhưng cho đến nay không có ai chủ trương phải chuyển sang chủ nghĩa xã hội (với nội dung như đã định nghĩa ở Tiết I) để giải quyết các mặt tiêu cực của kinh tế thị trường. Nếu có tham khảo chủ nghĩa xã hội thì cũng chỉ nhấn mạnh lý tưởng ban đầu là quan tâm hơn đến mặt công bằng xã hội. Ngay cả giáo sư Thomas Piketty (2014), tác giả cuốn sách đang được cả thế giới chú ý Tư bản trong thế kỷ 21, tuy chứng minh là chủ nghĩa tư bản có khuynh hướng ngày càng mở rộng sự phân hoá giàu nghèo nhưng cách giải quyết ông đề xuất vẫn nằm trong khuôn khổ của kinh tế thị trường, của chủ nghĩa tư bản (đánh thuế lũy tiến trên những người nhiều tư sản). Tuy chủ đề của cuốn sách gợi người ta liên tưởng đến bộ sách của Marx nhưng tác giả không chủ trương phải theo chủ nghĩa xã hội để giải quyết vấn đề.

Những nhà lý luận kinh điển của kinh tế thị trường như A. Smith và A. Marshall đều nhấn mạnh mặt đạo đức, mặt nhân văn cần có của kinh tế thị trường. Họ cho rằng mỗi cá nhân qua hoạt động kinh tế của mình phải đem lại ân huệ, lợi ích cho nhiều người; đạo đức của thị trường đòi hỏi phải có tính vị tha, lòng khoan dung, và tinh thần vì cộng đồng. Thị trường có chất lượng cao là nơi có nhiều người có năng lực làm ra của cải nhưng đồng thời có tấm lòng vị tha. Đó là điều kiện để có hiệu suất và công bằng trong kinh tế thị trường. Việt Nam hiện nay tuy chủ trương theo định hướng XHCN nhưng sự phân hoá giàu nghèo còn lớn hơn nhiều nước tư bản. Thu nhập bình quân đầu người mới chỉ 2.000 USD nhưng phong cách ăn tiêu của người giàu ở VN cao hơn nhiều so với người giàu ở Nhật Bản. Vấn đề đạo đức trong kinh tế thị trường ở VN cũng kém hơn nhiều so với các nước tư bản tiên tiến.25

4. Đảng Cộng sản và tương lai đất nước Việt Nam:

Do lịch sử để lại, Đảng CS hiện nay là chính đảng duy nhất lãnh đạo Việt Nam. Trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, Đảng CS đã giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Thời đó ngọn cờ chủ nghĩa xã hội chỉ có tác dụng như là một lý tưởng hứa hẹn cho tương lai, một xã hội chưa có nhưng nhiều người tin rằng đó là mục tiêu cần hướng đến, và Đảng CS đã dùng lý tưởng đó để động viên nông dân, công nhân và trí thức tham gia vào cuộc kháng chiến, chứ chưa cho thấy tính ưu việt của chủ nghĩa đó trong việc xây dựng đất nước. Sang thời bình, chủ nghĩa xã hội đã bộc lộ những khuyết điểm và VN phải thực hiện đổi mới. Chủ nghĩa xã hội cũng thất bại trên bình diện thế giới, và như đã nói ở Tiết I, cả khối xã hội chủ nghĩa đã hoặc đang chuyển sang kinh tế thị trường.

Đảng CS VN tuy ra đời với lý tưởng xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng, ngày nay thực tiễn đã cho thấy chủ nghĩa xã hội đã thất bại trong việc xây dựng đất nước nên Đảng CS không thể và không cần dựa vào ý thức hệ này để chính thống hoá vai trò lãnh đạo của mình. Ngược lại nếu Đảng CS từ bỏ ý thức hệ đã lỗi thời, tiếp thu những tiến bộ của thời đại, từ đó cùng với trí thức trong và ngoài đảng đưa ra được ý tưởng mới, tư duy mới, chiến lược mới cho con đường phát triển của đất nước, thì sẽ được dân tin tưởng, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng CS và tin tưởng về tương lai của VN.

Như vậy, không cần phải dựa vào lý tưởng xã hội chủ nghĩa để khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng CS. Ngược lại nếu Đảng CS cứ tiếp tục chủ trương định hướng XHCN mà thực chất là muốn quay trở lại chủ nghĩa xã hội như ta đã thấy qua các bài viết của nhiều vị lãnh đạo lý luận và tư tưởng thì nhiều mâu thuẫn tiếp tục tồn tại, gây lãng phí thì giờ và các nguồn lực khác, chí ít là ở các mặt cụ thể như sau.

Thứ nhất, một mặt nhiều nhà lý luận và lãnh đạo tư tưởng trong Đảng CS khẳng định chủ nghĩa xã hội một cách duy ý chí và không chứng minh một cách có sức thuyết phục tại sao VN phải định hướng XHCN, mặt khác những cán bộ phụ trách lãnh đạo, quản lý và điều hành thực tế thì phải vất vả đi tìm phương cách giải thích đường lối sao cho tương thích với thực tiễn. Ông Trần Đức Nguyên, nguyên Trưởng ban Nghiên cứu của Thủ tướng và là người từng làm trợ lý cho nhiều lãnh đạo cao nhất, từng tham gia vào việc soạn thảo nhiều văn kiện về đổi mới kinh tế của Đảng, đã từng nói: “Những người soạn thảo chiến lược (1991-2000) hiểu rằng việc xác định một cách khoa học thế nào là chủ nghĩa xã hội và thế nào là định hướng XHCN không đơn giản” (Trần Đức Nguyên 2008, tr. 93). Gần đây, theo TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế VN: “Trong 25 năm qua, cứ mỗi năm lại có một hoặc nhiều chương trình nghiên cứu nhà nước. Trong những chương trình ấy thường có một vài đề tài trả lời câu hỏi thế nào là kinh tế thị trường XHCN. …Đến đợt này cũng phải trả lời tiếp. … Như thế là chúng ta đã rất cố gắng để đi tìm một định nghĩa làm chúng ta thấy tin tưởng và hài lòng. Nhưng thực tế là đến bây giờ chúng ta vẫn chưa rõ, vẫn cứ phải đi tìm câu trả lời” (Vietnamnet 1/4/2015, tôi nhấn mạnh). Trong buổi nói chuyện tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh cuối năm 2013, trả lời câu hỏi thế nào là thể chế kinh tế thị trường XHCN, Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh cho rằng “Chúng ta cứ nghiên cứu mô hình đó mà mãi có tìm ra đâu. Làm gì có thứ đó mà tìm”. Qua các nhận xét này ta có thể tưởng tượng xã hội đã phải chịu bao nhiêu phí tổn cho vấn đề này suốt 20 năm qua. Tại sao các nước đã phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc không phải mất bao nhiêu công sức cho việc bàn luận, nghiên cứu về đường lối, nhất là không phải động viên sức người sức của cho việc chứng minh những vấn đề đã được thực tiễn cho thấy không còn tác dụng, không còn hợp thời nữa? Họ xuất phát từ khát vọng cháy bỏng là làm sao đưa đất nước lên hàng quốc gia thượng đẳng, từ đó tham khảo những kinh nghiệm thành công của các nước đi trước song song với các chiến lược, chính sách hợp lý, củng cố được nội lực chứ không phải chỉ tranh thủ ngoại lực.

Thứ hai, liên quan đến nguồn lực sử dụng không có hiệu quả phải kể đến tình hình giáo dục ở đại học. Hiện nay tại các đại học ở VN, sinh viên phải học các môn bắt buộc về chủ nghĩa Mac-Lênin và về chủ nghĩa xã hội khoa học. Lãnh đạo tư tưởng trong Đảng có bao giờ thực hiện một nghiên cứu nghiêm túc, một đánh giá khách quan về phí tổn (ngân sách và thì giờ) và tác dụng của các môn học này đối với sinh viên? Tại sao lãnh đạo VN tiếp tục gửi sinh viên sang nước ngoài học ở những đại học không dạy những môn đó mà trong nước lại bắt sinh viên mình phải học? Theo tôi có thể tiếp tục giảng dạy các môn đó nhưng để sinh viên chọn lựa, không bắt buộc phải học.

Thứ ba, như đã nói ở trên, dưới chủ trương nền kinh tế thị trường định hướng XHCN mà thực chất là sẽ trở lại chủ nghĩa xã hội (kinh tế nhà nước sẽ ngày càng đóng vai trò chủ đạo), doanh nghiệp quốc doanh tiếp tục ỷ lại vào sự bảo hộ của nhà nước, những nhóm lợi ích chung quanh doanh nghiệp quốc doanh sẽ có lý do để thao túng các nguồn lực như vốn, đất đai, và mặt khác doanh nghiệp dân doanh sẽ không có điều kiện phát triển, không có ý chí đầu tư dài hạn, không phát huy tinh thần doanh nghiệp.

Tôi muốn nhấn mạnh lại điểm này: Đảng CSVN không cần phải dựa vào ý thức hệ XHCN mới chính thống hoá được vai trò lãnh đạo của mình. Và trên thực tế đã đến lúc nên xa rời chủ nghĩa xã hội mới mong có thể tiếp tục lãnh đạo. Vài năm trước, cuốn sách Tại sao các quốc gia thất bại: Nguồn gốc của Quyền lực, Thịnh vượng và Nghèo khó của Acemoglu & Robinson (2012) đã gây tranh cãi trong giới nghiên cứu chính trị và kinh tế. Theo hai tác giả, nước nào theo thể chế bao trùm, bao dung (inclusive institutions) với ý nghĩa là phải dân chủ, phải tạo điều kiện bình đẳng về chính trị cho mọi tầng lớp dân chúng thì mới thực hiện được sự tăng trưởng bao trùm, bao dung (inclusive growth) trong đó kinh tế vừa phát triển vừa bảo đảm phân phối thu nhập công bằng hơn và tạo lập sự hài hoà trong xã hội, và đó là điều kiện để phát triển nhanh và bền vững. Nhiều ý kiến khác, trong đó có tôi, thì cho rằng trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển không nhất thiết phải có thể chế bao trùm26, vấn đề quan trọng nằm ở chỗ nhà nước có vì dân, vì đất nước và từ đó thoát ra khỏi những ràng buộc của tư tưởng giáo điều hay không mà thôi.

Theo tôi, Đảng CSVN có thể phát huy vai trò lãnh đạo của chính đảng duy nhất hiện nay, đưa đất nước tiến nhanh lên vị trí ngang tầm với vị trí về dân số trên thế giới (nghĩa là độ 10.000 USD) với điều kiện đổi mới thực sự theo những phân tích thực tiễn như nói trên. Từ điểm đó dù chuyển qua chế độ đa đảng, với thành tích vì dân vì nước mà đã thay đổi đường lối để phát triển, Đảng CS vẫn tiếp tục được dân chúng ủng hộ.

Thay lời kết

Trách nhiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay là phải đưa ra tầm nhìn, dự phóng về một tương lai 15 hoặc 20 năm tới, trong đó có những cam kết cụ thể về việc đưa đất nước lên hàng thượng đẳng trong đó kinh tế VN sẽ có một vị trí quan trọng, chẳng hạn tương đương với vị trí của quy mô dân số, không còn lao động xuất khẩu, không còn nhận viện trợ và có một đội ngũ tư bản dân tộc vững mạnh. Như vậy mới đáp ứng được kỳ vọng của dân chúng. Không nên tiếp tục đưa ra những mục tiêu không thiết thực như xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hoặc những mục tiêu chung chung như dân giàu nước mạnh,… Việt Nam đang cần những người lãnh đạo đề cao chủ nghĩa phát triển, thoát ra những trói buộc vào ý thức hệ lỗi thời, vào những giáo điều mà thực tế đã cho thấy không còn giá trị.

Năm 2015 là năm chẵn kỷ niệm nhiều sự kiện lịch sử, Đảng CS cũng đang chuẩn bị Đại hội lần thứ XII. Nhưng sẽ là một thiếu sót lớn nếu những dịp này không đưa ra tầm nhìn chiến lược về con đường phát triển sắp tới nhằm đối phó hữu hiệu với những thách thức hiện nay, không đề cập đến việc thay đổi hình ảnh của Việt Nam trên vũ đài quốc tế. Như đã phân tích ở trên, muốn đưa ra tầm nhìn chiến lược và các chính sách cụ thể phải giải phóng ra khỏi những tư tưởng, lý luận có tính giáo điều, xa rời thực tiễn.

Một đất nước muốn trở thành quốc gia thượng đẳng phải bắt đầu từ khí khái, đổi mới tư duy, và quyết tâm hành động của giới lãnh đạo, từ đó quy tụ nhân tài và đưa ra được tầm nhìn về hướng phát triển đáp ứng được mơ ước của dân chúng.

Trần Văn Thọ, Đại học Waseda, Nhật Bản.

Tác giả cám ơn các anh chị Trần Hữu Dũng, Trần Xuân Giá, Trần Hải Hạc, Chu Hảo, Lưu Bích Hồ, Phạm Chi Lan, Trần Đức Nguyên, Hà Dương Tường, Vũ Quang Việt và hai ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã đọc bản thảo đầu tiên (tháng 5/2015) và góp nhiều ý kiến hữu ích. Bản sửa chữa đã được chuyển đến một số lãnh đạo cấp cao của Đảng Cộng sản Việt Nam (trong tháng 9/2015). Đây là bản cuối cùng (tháng 12/2015).

Tư liệu có trích dẫn:

Acemoglu, Daron and James A. Robinson (2012), Why Nations Fail: The Origin of Power, Prosperity, and Poverty, Crown Business.

Đảng Cộng sản Việt Nam (2015), Dự thảo báo cáo Chính trị Đại hội Đảng XII, Vietnamnet 15/9.

Kornai, Janos (1992), The Socialist System: The Political Economy of Communism, Oxford University Press.

Lavigne, Marie (1995), The Economics of Transition from Socialist Economy to Market Economy, Macmillan Press.

Lê Xuân Tùng (2015), Phải chăng kinh tế tư nhân là nền tảng của nền kinh tế quốc dân? Quân đội nhân dân, 5/6.

Lưu Văn Sùng (2014), Quan điểm, đường lối chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam khi bước vào công cuộc đổi mới và hiện nay, Tạp chí Cộng sản, 25/11.

Nguyễn T., Nguyễn T.T.H. và Nguyễn C. D. (2012), Kinh tế Việt Nam giai đoạn 2006-2010 và Triển vọng 2010-2020, Trung tâm Phân tích và Dự báo, Viện Khoa học Xã hội, Hà Nội.

Nhiều tác giả (2011), Ý kiến chúng tôi: Cải cách toàn diện để phát triển đất nước.

Piketty, Thomas (2014), Capital in the Twenty-First Century (Translated by Arthur Goldhammer), The Belknap Press of Harvard University Press.

Roland, Gerald (2000), Transition and Economics: Politics, Markets and Firms, MIT Press.

Suehiro Akira (2014), Shinko Ajia Keizairon (Luận về kinh tế của những nước Á châu mới nổi), Iwanami Shoten.

Nguyễn Viết Thông (2014), Kiên định con đường đi lên Chủ Nghĩa Xã Hội, Bài 1: Khát vọng của nhân dân, Saigon Giải phóng, 14/9/2014.

Tạ Ngọc Tấn (2015), Những thành tựu lý luận của Đảng qua 85 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, 31/3/2015.

Trần Đức Nguyên (2008), “Chiến lược 1991-2000: Bước đột phá về quan điểm phát triển,” trong Đào Xuân Sâm, Vũ Quốc Tuấn, chủ biên, Đổi mới ở Việt Nam: Nhớ lại và suy ngẫm, NXB Tri thức, tr. 89-121.

Trần Văn Thọ (2002), Đảng viên làm kinh tế, Tia Sáng, Tháng 9.

Trần Văn Thọ (2012), Bẫy thu nhập trung bình nhìn từ các nước ASEAN, Thời đại mới số 24 (tháng 3).

Tran Van Tho (2013a), Vietnamese Economy at the Crossroads: New Doi Moi for Sustained Growth, Asian Economic Policy Review, Volume 8 Issue 1 (June), pp. 122-143.

Trần Văn Thọ (2013b), Đạo đức và kinh tế thị trường, Thời báo kinh tế Saigon, số đặc biệt Xuân Quý Tỵ, tr. 24-25.

Tran Van Tho (2013), The problem of Vietnamese gradualism in economic reform, East Asia Forum, 12/4

Trần Văn Thọ (2014a), Thách thức chưa giàu đã già, Tuổi Trẻ số Tết Giáp Ngọ.

Trần Văn Thọ (2014b), FDI và nguy cơ phân hoá kinh tế, Thời báo kinh tế Saigon, 8/5.

Trương Đình Tuyển (2015), Kinh tế thị trường hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa là gì? Thời báo Kinh tế Saigon, 11/4.

Vũ Văn Phúc (2014), Phải chăng chủ nghĩa Mác-Lenin là “ngoại lai, bắt nguồn từ phương Tây nên không còn phù hợp với Việt Nam?”, Tạp chí Cộng sản, 25/4.

Weil, David N. (2013), Economic Growth, Third Edition (International Edition), Pearson.

World Bank (1993), The East Asian Miracle: Economic Growth and Public Policy , Oxford University Press.

World Bank (1996), World Development Report: From Plan to Market, Oxford University Press.

World Bank (2011), Vietnam Development Report 2012: Market Economy for a Middle-Income Vietnam, Hanoi: World Bank.

Chú thích :

1 Khái niệm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chính thức được dùng từ năm 2001 (Đại hội IX) nhưng chủ trương có cùng nội dung đó đã có từ năm 1994 ở Hội nghị giữa nhiệm kỳ Đại hội VII. Liên quan sự phát triển nhận thức về kinh tế thị trường, ở Hội nghị đó, Đảng CSVN đã nêu quan điểm “Cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đang trở thành cơ chế vận hành của nền kinh tế”.

2 Trương Đình Tuyển (2015). Các vị khác trong nhóm này có các chuyên gia như Nguyễn Đình Cung (VNeconomy, 21/4/2015), Trần Đình Thiên (Vietnamnet, 1-3/4/2015).

3 Chẳng hạn xem Lưu Văn Sùng (2014), Nguyễn Viết Thông (2014) , Vũ Văn Phúc (2014), Tạ Ngọc Tấn (2015), Lê Xuân Tùng (2015).

4 Dự thảo Báo cáo Chính trị Đại hội XII chủ trương vẫn kiên trì đường lối này do đó nếu dự thảo này được thông qua ở Đại hội thì xem như sẽ không có thay đổi. Ngoài ra, về nhân sự cấp lãnh đạo sắp tới, Tổng bí thư và Trưởng ban Tổ chức Trung ương đã khẳng định một trong những tiêu chí quan trọng là phải kiên định với lập trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thêm vào đó, những đảng viên muốn được đề bạt vào cấp lãnh đạo phải học lý luận và tư tưởng ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

5 Do khuôn khổ của bài viết này, tôi sẽ không điểm lại nội dung, đặc tính và phát triển của trào lưu nghiên cứu này. Vài cuốn sách tiêu biểu bằng tiếng Anh xuất bản trong thập niên đầu của sự kiện lịch sử này là Kornai (1992), Lavigne (1995), Roland (2000) và World Bank (1996). Cuốn sách cuối cùng là bản báo cáo hằng năm của Ngân hàng Thế giới, báo cáo năm ấy có tiêu đề phụ là Từ Kế hoạch sang Thị trường.

6 Chiến lược liệu pháp sốc (shock-therapy) chủ trương nên chuyển sang kinh tế thị trường trong thời gian ngắn và đồng bộ giữa các ngành, các lãnh vực. Đối lại, chiến lược tuần tự (gradualism) chủ trương tự do hóa và cải cách từng bước và có chọn lựa mới khả thi và bảo đảm sự ổn định, bền vững. Bây giờ thì hầu hết các nhà nghiên cứu đều công nhận chiến lược thứ hai có hiệu quả hơn (Xem chẳng hạn Rodrik 2007). Tuy nhiên chiến lược thứ hai nếu kéo dài quá lâu và không triệt để thì lại phát sinh nhiều tệ hại như tham nhũng và duy trì các nhóm lợi ích. Tôi có bàn về chiến lược chuyển đổi thể chế tuần tự theo kiểu Việt Nam trong Tran Van Tho (2013).

7 Ngân hàng Thế giới dùng khái niệm “sự can thiệp của nhà nước cần theo hướng thân thiện với thị trường” (market friendly intervention) để chỉ quan hệ cần có giữa nhà nước và thị trường. Xem World Bank (1993).

8 Nói chính xác, như đã phân tích ở trên, kinh tế thị trường phát triển theo từng giai đoạn nên khi nói “vận hành đầy đủ, đồng bộ” là đã nói về một nền kinh tế thị trường đã phát triển đến giai đoạn cao nhất. Ngay cả những nước tư bản tiên tiến cũng có mặt chưa đạt đến giai đoạn đó. Thành ra nếu VN nói đến giai đoạn đó thì chỉ có nghĩa là mục tiêu sẽ hướng tới trong tương lai.

9 Ở Nhật Bản, suốt từ năm 1955 đến nay, trừ 2 thời kỳ ngắn tổng cộng hơn 5 năm, Đảng Tự do Dân chủ (LDP) cầm quyền đã gần 55 năm, mặc dù có nhiều đảng đối lập tranh nhau qua các cuộc bầu cử tự do.

10 Dẫn theo Dự thảo đăng trên báo Nhân Dân ngày 15/9/2010.

11 Sự chuyển dịch về hướng kinh tế thị trường này có tác dụng tốt là khơi dậy các nguồn lực trong và ngoài nước, đưa lại những thành quả nhất định trong đổi mới, nhưng những yếu kém trong sự quản lý của nhà nước tạo điều kiện cho sự hình thành và lộng hành các nhóm lợi ích bất chính làm cho thị trường phát triển thiếu lành mạnh. Nhiều người đã hình dung tình trạng nầy là chủ nghĩa tư bản hoang dã.

12 Tính từ tư liệu trong Suehiro (2014) ta thấy vào năm 1980 Á châu (không kể Nhật Bản là nước công nghiệp tiên tiến) chỉ chiếm 7% sản lượng thép của thế giới nhưng đến năm 2012 con số đó lên tới gần 60%. Con số tương tự trong ngành ô-tô tăng từ 0% lên 40%. Hiện nay (2012), Á châu chiếm từ 90 đến 100% sản lượng thế giới trong các ngành máy tính cá nhân và phụ kiện và hầu hết các mặt hàng về đồ điện gia dụng (ở các mặt hàng này Nhật hầu như không sản xuất trong nước nữa). Vào mùa thu năm 2001, chính phủ Đài Loan cho phép doanh nghiệp ngành công nghệ thông tin (IT) sang đầu tư ở Trung Quốc đã tạo nên làn sóng công nghiệp máy tính ồ ạt chuyển sang nước này (Suehiro 2014, tr. 45). Điểm này cho thấy nếu môi trường đầu tư ở Việt Nam thuận lợi thì có khả năng đón đầu dòng thác FDI ngành IT từ Đài Loan trước năm 2001.

13 Về sự kém hiệu suất phát triển của kinh tế Việt Nam, xem chẳng hạn Tran Van Tho (2013a), Nguyễn et al. (2012), World Bank (2011).

14 Cuộc tọa đàm trên Vietnamnet gần đây (20/5/2015) giữa chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan và Trưởng phòng Pháp chế Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Đậu Anh Tuấn cho thấy hiện trạng bi thảm của doanh nghiệp tư nhân Việt Nam. Theo điều tra của VCCI, từ 2002 đến 2012, trong 10 năm quy mô vốn bình quân của doanh nghiệp tư nhân VN bị “teo lại” còn một nửa.

15 Giữa lúc tranh luận sôi nổi về vấn đề này, tôi có viết bài chỉ trích những mâu thuẫn trong chủ trương của giới bảo thủ trong Đảng CS. Xem Trần Văn Thọ (2002). Đến năm 2006 đảng viên mới được phép làm kinh tế tư nhân.

16 Từ khi gia nhập WTO (đầu năm 2007) thì ngược lại, cho FDI vào tự do ở mọi ngành, kể cả những ngành doanh nghiệp trong nước có thể đầu tư, và kể cả những ngành lẽ ra cần dành cho doanh nghiệp bản xứ trong tương lai. Hậu quả của giai đoạn thứ hai là FDI vào ồ ạt vào đầu tư trong khi doanh nghiệp trong nước, kể cả quốc doanh còn yếu.

17 Trong trường hợp của Nhật Bản, yếu tố độc tài yếu hơn và chủ yếu chi thấy ở thời Minh Trị, nhưng Nhật cũng có đầy đủ các yếu tố khác như yêu nước, tinh thần dân tộc và kinh tế thị trường.

18 Gần 4 năm trước (ngày 8 tháng 9 năm 2011), chúng tôi gồm 14 người Việt Nam ở nước ngoài (đang hoặc đã làm việc ở các đại học, viện nghiên cứu, tổ chức quốc tế,.. ) đã phát biểu Ý kiến chúng tôi: Cải cách toàn diện để phát triển đất nước trong đó phân tích hầu hết các mặt kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học công nghệ, đối ngoại, và đưa ra các chiến lược, chính sách cải cách “vì một nước giàu mạnh và tự chủ”. Xem Nhiều tác giả (2011). Trước khi phát biểu, Bản ý kiến đã gửi đến các ủy viên Bộ Chính trị Đảng CS, Quốc Hội và Chính phủ Việt Nam. Tình hình Việt Nam hiện nay nhiều mặt còn đáng lo ngại hơn so với 4 năm trước.

19 Xem phân tích chi tiết trong Trần Văn Thọ (2014a).

20 Trần Văn Thọ (2014b)

21 Tran Van Tho (2012)

22 Trong những nước có một quy mô dân số nhất định tại châu Á, trước đây Indonesia và Phi-li-pin được xem là tồi tệ nhất về nạn tham nhũng, nhưng gần đây Việt Nam đã vượt qua hai nước này.

23 Riêng tại Nhật hàng năm tôi tham gia rất nhiều buổi giảng dạy, thuyết trình cho các khóa huấn luyện nầy.

24 Theo Weil (2013), tr. 22, dựa trên nhiều nghiên cứu.

25 Tôi đã có dịp bàn về vấn đề đạo đức trong nền kinh tế thị trường : Trần Văn Thọ (2013b).

26 Ở đây chỉ giới hạn vấn đề trong thể chế độc đảng hay đa đảng, chứ không đi vào các vấn đề liên quan như nhân quyền, tự do ngôn luận, v.v… Dù đang trong giai đoạn thể chế một đảng, việc bảo đảm tự do ngôn luận, bảo đảm nhân quyền là cần thiết, nếu không thì không thể phòng chống tham nhũng và không đáp ứng nhu cầu văn hóa ngày càng cao của dân chúng.

Tên Mỹ Tên Việt

Ngay khi vừa đặt chân đến nước Mỹ mới có ba tháng, ông Chín đã vội vàng thực hiện ngay giấc mơ hằng ấp ủ từ lâu năm của mình: bỏ tên Việt, lấy tên Mỹ.
Ông vốn là người rất sùng bái nước Mỹ, người Mỹ. Tất cả những gì thuộc về Mỹ hoặc liên quan đến Mỹ, đối với ông đều là number one tuốt luốt, không thể chê vào đâu được! Có thể nói đây là một chứng bệnh, cũng tựa như bệnh tôn thờ các thần tượng ca nhạc của giới trẻ vậy. Và chứng bệnh này ông đã mang từ hồi trước
1975, lúc quân đội Mỹ đang tham chiến ở Việt Nam. Ông rất mê các sản phẩm của Mỹ, từ cuộn giấy chùi đít, đến cái búa, cây đinh, chiếc xẻng cá nhân, lon nước ngọt, những tấm ván ép, những tảng thịt gà đông lạnh v..v..

Hồi trước 1975, ông đã từng đi làm cho hãng thầu RMK của Mỹ tại Việt Nam nên ông đã được hân hạnh thưởng thức những sản phẩm vật chất tuyệt diệu này của Mỹ. Lúc ấy ông thường nói với bạn bè, vợ con:
– Đồ của Mỹ là bền chắc suốt đời, không chê vào đâu được! Made In USA là number one! Cây đinh của nó làm bằng thép già, thứ thiệt, đóng vào đâu cũng được. Mẹ kiếp, cây đinh của mình làm bằng thép non, chưa đóng đã queo! Cái búa của nó cầm đóng thật là êm tay, cú nào chắc cú đó, còn búa của mình vừa mới đóng có vài cái đã sút cán, đầu búa bị tà vẹt vì thép non xèo, chẳng ra cái giống gì cả!
Và ông thường rút ra kết luận:
– Thằng Mỹ nó giàu cho nên sản phẩm của nó làm ra đều bền chắc.Hèn chi nó là bá chủ thế giới cũng là phải!
Từ chỗ sùng bái Mỹ, ông đã có ước mơ một ngày nào đó ông được đặt chân lên cái thiên đàng hạ giới này một lần, “xem dân cho biết sự tình”, cho thỏa lòng thỏa dạ, rồi có chết cũng mãn nguyện! Nghe nói ở bên Mỹ khỏi cần phải đi làm, chỉ cần đi bới thùng rác thôi cũng đủ sống qua ngày! Còn đàn bà thì ở bên đó rất nhiều, ai cũng xinh tươi trẻ đẹp, chỉ cần làm quen sơ sơ là có thể mời họ về nhà ân ái được rồi! Thế nhưng bỗng nhiên xảy ra biến cố 1975, giấc mơ của ông Chín tắt ngúm.
Sau năm 1975, gia đình ông vô cùng khốn khổ. Bản thân ông bị đi cải tạo vì bị ghép vào tội làm CIA cho Mỹ! Thật là oan ông địa cho ông Chín quá, bởi vì ông chỉ là một công nhân quèn làm cho hãng thầu RMK của Mỹ, chuyên xây cất các căn cứ quân sự Mỹ và làm đường xá tại các tỉnh ở miền Nam Việt Nam. Có một lần ông được đưa vào làm tại một căn cứ ra đa rất lớn của Mỹ ở bãi biển Tiên Sa, Đà Nẵng. Lúc về nhà ông thường khoe nhặng lên là ông làm đài ra đa chuyên về không thám, kiểm soát luôn cả ba nước Việt Miên Lào. Vạ mồm vạ miệng, sau năm 1975, những thằng việt cộng nằm vùng trong xóm chụp luôn cho ông cái mũ “CIA”, thế là ông bị đi cải tạo 5 năm! Vả chăng vấn đề cũng phần nào do sự ganh ghét. Nhờ đi làm cho Mỹ và kiêm luôn chuyên ăn cắp đồ Mỹ đem bán cho nên gia đình ông tương đối giàu có trong xóm, xây được nhà lầu ba tầng. Những thằng việt cộng nằm vùng đạp xích lô ghét ông là phải!
Tuy nhiên, nếu nhìn đời theo triết lý “Tái Ông Thất Mã” *, may là rủi và rủi là may thì sự việc 5 năm đi cải tạo của ông Chín chính là tiền đề may mắn cho giấc mơ hằng ấp ủ lâu năm của ông: năm 1992 toàn gia đình ông được sang Mỹ định cư theo diện HO! Thế là giấc mơ của ông Chín đã thành sự thật! Chỉ ba tháng sau khi ổn định đời sống trên đất Mỹ, một hôm ông Chín triệu tập gấp bốn đứa con ông lại. Bằng một nét mặt rất nghiêm trang và giọng nói trịnh trọng, ông Chín nhập đề:
– Các con có biết vì sao hôm nay ba “đại hội” các con lại như vầy không”
Mấy đứa con ông Chín chưa biết ất giáp gì, đứa nào đứa nấy đều ngơ ngơ ngáo ngáo. Thằng Cầu 17 tuổi, lớn nhất, hỏi thăm dò:
– Chắc là có chuyện gì quan trọng phải không ba”
Ông Chín bèn đi một đường quan trọng hóa vấn đề:
– Tất nhiên là quan trọng rồi. Chuyện này có can hệ đến tương lai của các con. Ba quyết định làm chuyện này để tương lai của các con được tuơi sáng …
Nghe ông Chín mào đầu, mấy đứa con ông hớn hở, nhao nhao hỏi tới tấp:
– Chuyện gì vậy ba” Chắc là ba trúng số”
– Ba định mua xe hơi cho tụi con” Hay ba định “mu” (move) đi chỗ khác”
– Ba mua xe hơi đi ba, chở tụi con đi chơi, đi học bằng xe buýt cực quá!
Ông Chín xua tay:
– Không, không phải như vậy. Chưa mua xe được. Mới qua còn nghèo chết mẹ tiền đâu mua xe!
Nói xong ông Chín đưa mắt nhìn từng đứa con một cách kỹ lưỡng như vị tướng duyệt hàng quân danh dự:
– Nghe đây, thằng Cầu, con Dừa, thằng Đủ, con Xoài, kể từ nay ba sẽ đặt cho mỗi đứa một cái tên Mỹ!
Bốn đứa cùng nhao nhao lên:
– A aa …. aaa …. Ba đặt tên Mỹ cho tụi con”
Ông Chín có bốn đứa con, xen kẽ hai nam hai nữ: lớn nhất là thằng Cầu, 17 tuổi; kế đến là con Dừa, 12; thằng Đủ, 10; và con Xoài 8 tuổi. Sở dĩ ông đặt tên trái cây cho bốn đứa con vì lý do sau: ông chỉ cầu mong ông bà trời phật phù hộ cho ông có cuộc sống tạm đủ là mừng rồi, không dám mơ ước giàu có, cao sang làm chi! Cuộc sống đạm bạc, miễn sao gia đình luôn êm ấm, hòa thuận, con cái ngoan
ngoãn, hiếu thảo là ông mừng.
Và sự cầu mong của ông có lẽ được ứng nghiệm, bởi vì tuy đã qua Mỹ nhưng vợ con ông vẫn rất đàng hoàng, sống rặt theo truyền thống Á Đông, chưa hề có biểu hiện muốn “hạ bệ” nguời cha xuống bậc chót của nấc thang xã hội! Theo ông được biết, tựa như sĩ, nông, công, thương, bốn giai cấp căn bản trong xã hội phong kiến, xã hội tư bản Mỹ cũng có bốn “giai cấp” tương tự, đó là: thứ nhất trẻ em, thứ nhì đàn bà, thứ ba là chó, và cuối cùng là … đàn ông! Ông biết có gia đình HO khi vừa đặt chân xuống phi trường bên Mỹ thì bà vợ đã chỉ mặt ông chồng nói dằn mặt: ” Kể từ nay anh … hết thời rồi. Anh nên nhớ tôi là … đàn bà đó nghe! Ở xứ Mỹ này đàn bà là … quý lắm! Đụng tới tôi là tôi kêu nine one one liền!” Nhưng ông Chín vẫn còn có phước, chưa bị rơi vào hoàn cảnh đáng tự tử như vậy. Vai trò của ông vẫn sáng ngời trong gia đình. Mọi việc từ nhỏ tới lớn đều do một tay ông sắp đặt. Ông tựa như vị tướng tư lệnh, mỗi khi phán điều gì, vợ con đều răm rắp tuân phục.
Thằng Đủ là đứa đầu tiên hoan nghênh quyết định rất sáng suốt của ông Chín:
– Hay quá ba ơi, ba đặt cho tụi con tên Mỹ đi. Ba biết không mấy tụi bạn cứ chọc quê cái tên của con hoài. Hồi ở Việt Nam con đã bị chọc quê nhiều, qua đây vẫn còn bị. Có đứa nó dịch tên con sang tiếng Mỹ, nó gọi con là thằng … Fuck!!!
Ông Chín bèn đi một đường luân lý giáo khoa thư:
– Các con nghe đây: ba đặt tên Mỹ cho tụi con là có lý do chớ không phải ba muốn chối bỏ cội nguồn tổ tiên ông bà mình. Nhập gia tùy tục, mình đã sang nước Mỹ rồi thì mình phải kiếm cách hội nhập vào xã hội của nó càng nhanh càng tốt. Để chi” Để dễ thành công, kiếm được nhiều tiền, gởi về giúp bà con cô bác của mình còn đang nghèo khổ bên quê nhà …
-Bốn đứa con ông Chín chăm chú lắng nghe những lời giảng giải của ông. Dưới cái nhìn của chúng, ông vẫn là một ngôi sao sáng chói trong gia đình. Ông giỏi tiếng Mỹ nhất nhà, dù là tiếng Mỹ bồi, nhờ trước 1975 ông đã từng đi làm cho Mỹ gần 10 năm. Mấy đứa con ông thuộc thế hệ “cháu ngoan bác Hồ”, trưởng thành sau 1975, không được học tiếng Mỹ vì đó là ngôn ngữ “phản động”! Mãi đến sau năm 1985, thời kỳ “đổi mới tư duy”, chúng nó mới học được dăm ba chữ thì lại theo cha sang định cư bên Mỹ. Trong gia đình ông, mọi vấn đề giao dịch với xã hội bên ngoài, nhất là đối với các cơ quan của chính phủ, đều do ông Chín đảm trách và kiêm luôn thông phiên dịch cho vợ con. Ông luôn lấy cái background 8 năm làm việc cho hãng thầu RMK Mỹ để giảng giải cho các con ông hiểu biết về nước Mỹ và người Mỹ:
-Ba đã từng làm việc cho tụi Mỹ 8 năm trời rồi, ba rành tụi nó lắm! Có nhiều cái đối với người Việt mình là rất hay, rất tốt nhưng đối với tụi Mỹ lại là number ten! Chẳng hạn như tên Việt Nam của mình là Dũng hay là Dung. Dũng có nghĩa là can đảm, gan dạ, còn Dung có nghĩa là nết na, hiền thục. Ý nghĩa hay biết chừng nào, vậy mà đối với Mỹ, cái chữ “dung” có nghĩa là … cục cứt!!!
-Vừa nghe ông Chín giải thích xong, bốn đứa con ông đồng cười rộ lên. Ông Chín hứng chí giảng tiếp:
– Thiệt đó chớ, ba có ông bạn tên là Nguyễn Hùng Dũng. Cái tên hay vô cùng, vậy mà khi sang Mỹ đi làm, mỗi khi đọc tên ông, tụi Mỹ cứ bật cười hô hố! Ông không nỡ bỏ cái tên hay, đẹp mà cha ông đã đặt cho ông. Vì vậy khi nhập quốc tịch, ông đã xin sửa tên ông lại thành ra chữ “Dzung”. Đệm thêm chữ Z vào để nó khỏi còn mang nghĩa xấu theo tiếng Mỹ! Ngoài ra tên của mình là Loan cũng là hay lắm nhưng tiếng Mỹ lại có nghĩa là món nợ! Tên “Phúc” hay “Phước” của mình làm cho tụi nó liên tưởng tới chữ “Fuck”, tụi nó cứ cười hoài! Còn những tên Việt của mình như Xuyên, Thuyên, Chuyên, Quyên, Uyên, Trường, Oanh v..v.. đối với tụi Mỹ khó phát âm, khó nhớ, gây trở ngại trong vấn đề giao tiếp….
Thằng Cầu nêu thắc mắc:
– Vậy tên tiếng Việt của tụi con có ý nghĩa gì đối với tiếng Mỹ không ba”
Ông Chín đáp:
– Không có ý nghĩa gì hết nhưng hơi khó phát âm, nhất là cái tên Xoài. Ba đã giảng cho các con hiểu ý nghĩa vì sao ba đặt tên trái cây cho bốn đứa. Sống ở đời mình đừng có tham lam thì ông bà sẽ thương, sẽ độ cho tụi mình. Đó là lý do vì sao mỗi lần đến ngày giỗ tết, ba dặn má các con đi chợ phải mua cho đủ bốn loại trái cây về cúng, đó là trái mẵng cầu, trái dừa, trái đủ đủ và trái xoài!
Nói đến đây ông Chín bỗng cao hứng xổ ra một câu “nho chùm” làm bốn đứa con lác mắt:
– Cụ Nguyễn Công Trứ đã từng nói: “Tri túc tiện túc đãi túc hà thời túc”, có nghĩa là biết đủ, hài lòng với cái đủ thì là đủ! Tên của bốn đứa con tượng trưng cho triết lý sống của ba ở đời, đó là “Cầu Vừa Đủ Xài”. “Vừa” tức là trái dừa đó, phát âm theo giọng miền Nam. Chữ “Xài” cũng vậy, người miền Nam gọi trái Xoài là “Xài” …
Tuy nhiên có một lần bà vợ ông Chín đã làm cho ông bực mình, đập bể hết mười mấy cái chén, dĩa. Số là tết năm đó bà ta đi chợ mua bốn loại trái cây về cúng như mọi năm nhưng rủi cho năm đó không hiểu vì bị mất mùa hay sao đó mà tuyệt nhiên không có một trái mãng cầu nào hết. Bà ta đi lùng khắp chợ cũng không thấy. Bù lại, tết năm đó bỗng nhiên chôm chôm được mùa, bày bán nhan nhản khắp chợ, giá lại thật là rẻ. Nhìn thấy những chùm chôm chôm tươi rói, đỏ au, bà thấy ham quá và nảy ra ý định mua chôm chôm thay cho mẵng cầu. Thế là bà ta mua vài ký chôm chôm cùng với các trái dừa, đu đủ và xoài để về cúng. Nhưng khi về nhà, dọn trái cây lên bàn thờ để chuẩn bị cúng thì ông Chín phát hiện ra sự kiện bất ngờ này. Ông đùng đùng nổi giận, chửi mắng bà vợ thậm tệ:
– Bà ngu như con bò, đúng là vô ý thức, bà thử ghép tên bốn loại trái cây này lại xem nó thành ra câu gì” Bà muốn cả nhà mình “chôm vừa đủ xài” phải không” Bà muốn tui phải đi ăn trộm phải không”
Tiếp theo đó là một màn chén bay, dĩa bay làm bà Chín tởn hồn, không bao giờ dám quên bài học năm đó!
Con Xoài nghe ông Chín nói vậy, bèn hỏi:
– Vậy ba đặt tên Mỹ cho con là gì vậy ba”
Ông Chín ngồi bật ngửa trên ghế, rút trong túi ra một tờ giấy có ghi các tên Mỹ, chìa ra cho mấy đứa con xem:
– Đây nè, ba đã làm xong hết rồi, theo thứ tự từ trên xuống dưới, ba sẽ có tên Mỹ là “Zon” (John), má tụi bay tên là “Kim Bớ Lì” (Kimberly), thằng Cầu tên là Mai Cồ (Michael), con Dừa tên là ” Lin Đà” (Linda), thằng Đủ tên là “En Đì” (Andy), con Xoài tên là “Nan Xì” (Nancy) …
Bốn đứa con cùng hớn hở reo lên:
– Hay quá, ba đặt cho tụi con tên Mỹ!
Thằng Đủ thích chí cười vang:
– Vậy là kể từ nay con tên là En Đì. Cái tên này nghe “sang” quá ba ơi!
Ông Chín cũng pha trò:
– Ờ, vậy là từ nay mày hết còn sợ bạn mày gọi mày là thằng … “Fuck” nữa!
Con Dừa bày tỏ sự hân hoan của mình:
– Con thích tên Linda lắm, nghe thật là dễ thương! Cái tên “Dừa” sao nghe kỳ kỳ quá phải không ba”
Ông Chín nói:
– Ba mong con mai mốt cũng nổi tiếng như ca sĩ Linda Trang Đài vậy!
Thằng Cầu bỗng lại nêu thắc mắc:
– Ba à, vậy làm sao mình sửa tên trên giấy tờ được”
Như đã chuẩn bị sẵn, ông Chín tuôn ra một tràng:
– Mình phải đợi khi được vào quốc tịch Mỹ, lúc ấy mình sẽ xin đổi tên. Còn bây giờ cứ dùng các tên Mỹ này, nói là đó là tên thường gọi của mình, gọi riết rồi thành ra quen. Dùng các tên Mỹ này có cái lợi là khi tụi Mỹ hỏi mình What’s your name, mình nói tên mình là Mai Cồ, En Đì hay Kim Bớ Lì là tụi nó hiểu liền. Còn nếu nói tên Việt Nam, nó bắt mình phải đánh vần, phiền phức lắm, đôi khi mình đánh vần một đằng, nó ghi một nẻo! Ngoài ra khi mình điền “phom” (form) để “áp lai” (apply) cái gì, xài tên Mỹ cũng có cái lợi, đó là tránh được sự kỳ thị, hoặc khi mình “o đờ” cái gì đó, mình nói tên Mỹ với số phone, địa chỉ là tụi nó mang tới nhà mình lẹ lắm. Có nhiều thằng chó đẻ, kỳ thị, thấy tên ngoại quốc là tụi nó giao hàng chậm trễ!!!
Đó là lý do chính mà ông Chín giải thích cho mấy đứa con. Còn một lý do nữa mà ông không tiện nói ra, đó là ông dùng tên Mỹ để mai mốt ông làm Việt kiều, áo gấm về làng, dợt le với thiên hạ! Ông sẽ in tấm các-vi-dzit như sau: Mr John Nguyen, phone …., fax …, e-mail … thì oai biết chừng nào! Người ta sẽ biết ông là Việt kiều, vì họ và tên của ông đã bị đảo ngược và không có bỏ dấu,
thái độ cư xử của thiên hạ đối với ông chắc chắn sẽ khác! Ông đang mơ đến ngày vinh quang đó và đang tích cực chuẩn bị từng ngày!
Thực tình mà nói, ngoài tinh thần vọng ngoại, ông Chín có ý đổi tên Việt thành tên Mỹ vì ông đã gặp nhiều trở ngại trong vấn đề giao tiếp. Bài học đầu tiên lúc ông mới đặt chân đến Mỹ, tại văn phòng sở di trú như sau: Hôm đó thằng counsellor cho ông cái hẹn lúc 11 giờ sáng. Ông đến thật sớm, ngồi tại phòng đợi. Thôi thì đủ mọi sắc dân hết, da đen , da trắng, da vàng, da nâu, đến từ mọi lục địa trên thế giới. Tất cả khoảng hơn 100 người, ngôn ngữ đủ loại tuôn ra hầm bà lằng, thật đúng là Hợp Chủng Quốc! Cứ khoảng 20 phút, con nhỏ thư ký lại ra, cầm danh sách đọc tên khoảng 10 người, mời vào gặp các tham vấn viên. Ông Chín ngồi chờ mãi mà không thấy người thư ký đọc tên ông ta. Ông chờ cho đến gần 2 giờ trưa, lúc đó trong phòng đợi chỉ còn có 5 người mà cũng không thấy người thư ký xướng tên mình. Ông sốt ruột quá, hay là nó bỏ sót tên mình” Không có lẽ, vì tờ giấy hẹn ông còn cầm chắc trên tay, ghi thật rõ họ và tên ông: Mr Khanh Van Nguyen. Ông họ Nguyễn, tên trên giấy tờ là Khánh. Thỉnh thoảng ông nghe người thư ký gọi to hai ba lần “Mr Uyen”” nhưng không thấy có ai đứng dậy. Chắc là một ông Việt Nam nào đó đã ngủ quên ở nhà. Thật là tệ, chỉ có việc đi lãnh tiền trợ cấp không thôi mà cũng làm biếng! Sang được xứ Mỹ rồi, con người đâm ra hư hỏng hết!
Cuối cùng chỉ còn sót lại có 5 người, ông Chín chịu không nổi, đánh bạo đến hỏi người thư ký vì sao không có tên” Người thư ký rà danh sách rồi hỏi ông Chín: “Are you Mr Khanh Van Nguyen” Is that you””
Ông Chín mừng quá “yes yes” lia lịa. Người thư ký giơ hai tay lên, tỏ ý thất vọng và nói: “Tôi đã gọi tên ông rất nhiều lần, tại sao ông không trả lời”” Đến lúc này ông Chín mới vỡ lẽ ra là nó gọi last name của mình, và vì chữ “Nguyễn” hơi khó phát âm nên nó đọc thành ra là “Uyên”!
Sau này ông được biết thêm là các chữ Mr, Mrs và Miss luôn luôn đi kèm theo cái họ của mình hoặc trong trường hợp dùng luôn cả họ lẫn tên. Mr Nguyen hoặc Mr Khanh Van Nguyen. Chữ Mr kèm theo last name chỉ dùng trong những trường hợp trang trọng, nghi thức xã giao. Đàm thoại thông thường thì lại gọi thẳng tên (first name)! Lúc bấy giờ trong đầu ông cứ đinh ninh nó sẽ gọi “Mr Khanh””, thì ông sẽ hãnh diện đáp to “Yes I am”!
Đúng là cái xứ Mỹ, nhiều chuyện ngược ngạo quá! Mình gọt trái cây, mình gọt xuôi, nó lại cầm con dao gọt ngược! Sao mà “ngu” quá vậy! Ông Chín còn nhớ đến một người bạn cũng gặp trở ngại về tên gọi như ông: Số là người bạn ông mới sang Mỹ, tình nguyện dạy một lớp tiếng Việt cho trẻ em Việt. Ông bạn này, tên là Thời, thường than phiền với ông Chín: “Tụi trẻ ở đây “hỗn láo” quá, nó cứ gọi thẳng tên mình ra, không có thưa gởi gì ráo! Chẳng hạn như:”Hello Thoi, how are you””, hoặc “Thoi, I don’t understand, please explain again!”, hoặc “Thoi, can I go out”” Đáng lẽ nó phải gọi tôi là ‘Mr Thoi’ mới đúng chớ!”
Đó là bài học nhớ đời đối với ông Chín. Từ đó trở đi ông luôn ghi nhớ trong đầu là ngoài tên Khánh, ông còn có một tên gọi nữa là “Mr Uyen”!!!
Đó là rắc rối về cái họ, còn đến cái tên của ông cũng gặp rắc rối không kém. Tên Việt Nam của ông là Khánh, viết theo kiểu Mỹ không bỏ dấu là Khanh. Vậy mà cứ 10 thằng Mỹ thì hết chín thằng viết sai tên ông thành ra là “Khan”, không có chữ ‘h’ sau cùng! Thậm chí có những lần điền đơn xin số điện thoại, thuê cable truyền hình, xin thẻ credit card, ông đã ghi rất rõ ràng tên ông là “Khanh”, vậy mà cứ bị những đứa thư ký chết tiệt nào đó bỏ bớt chữ ‘h’ sau cùng! Tức chết đi được! Nhất định là phải có “something wrong” rồi! Ông Chín phải bỏ công ra tìm hiểu thì mới vỡ lẽ ra như thế này: Hồi thế kỷ thứ 12, Thành Cát Tư Hãn (Genghis Khan) chinh phục toàn bộ Châu Âu, gần hết Châu Á và Châu Phi. Nơi ông ta dừng chân lâu nhất là vùng Trung Á, gồm các quốc gia theo Hồi giáo như hiện nay. Tên “Khan” của ông đã được lưu truyền lại cho đến nay, nhất là những sắc dân thuộc khối Ả Rập. Khi người Mỹ hỏi tên ông là gì, ông đáp tên là “Khanh”, họ liền liên tưởng đến cái tên … Ả Rập, chẳng hạn như Ali Khan! Cũng với lý do đó, cho nên những cô thư ký khi đọc đơn từ của ông, thấy tên “Khanh”, nghĩ rằng ông “Ả Rập” này lẩm cẩm đánh máy thừa chữ ‘h’, nên các cô tự động bỏ bớt chữ ‘h’ giùm ông cho đúng cái tên … “Ả Rập”!!! Thật là tai hại quá! Đó là chưa kể nhiều người Mỹ vốn có ác cảm với thành phần Hồi giáo vì những người này thường đặt bom khủng bố người Mỹ!
Nhiều lý do tổng hợp lại khiến ông Chín phải đi đến quyết định đổi tên, mong mỏi cuộc đời mình sẽ được tươi sáng hơn.
Thời gian thấm thoát thoi đưa, mới đó mà 5 năm đã trôi qua một cái vèo. Nhờ học bài thật kỹ cho nên ông Chín đã thi đậu quốc tịch một cách dễ dàng. Giám khảo của ông là một bà Mỹ trắng chừng 40 tuổi, đẹp, vui tính, cởi mở. Sau khi tuyên bố ông Chín đã thi đậu, bà hỏi thêm một vài câu:
– Ông có muốn đổi tên khi tuyên thệ không”
Ông Chín trả lời một cách dứt khoát:
– Không!
Có lẽ thấy ông là người Việt nên bà giám khảo hơi tò mò, hỏi thêm:
– Ông có thể cho tôi biết cảm tưởng của ông về nước Mỹ sau thời gian 5 năm ông đã định cư tại đây”
Lúc này trình độ Anh ngữ của ông Chín đã khá hơn nhiều nên ông có thể trả lời bà giám khảo một cách khá suông sẻ:
– Tôi có hai điều, một điều rất thích nước Mỹ và một điều rất ghét nước Mỹ!
Bà giám khảo nói:
– Xin ông cho biết cụ thể hơn”
Ông Chín nói tiếp:
– Điều làm tôi rất thich nước Mỹ, và tôi cho là yếu tố cực kỳ quan trọng, đó là cái thể chế chính trị của nước này, theo đó, quyền tự do, dân chủ của con người được tôn trọng tới mức tối đa. Quốc gia được thành lập trên căn bản tam quyền phân lập thật rõ ràng, hành pháp, lập pháp và tư pháp, ba thằng kiểm soát và khống chế lẫn nhau chặt chẽ. Nhiệm kỳ tổng thống chỉ có 4 năm, tài giỏi tới cỡ nào cũng chỉ làm được hai nhiệm kỳ, 8 năm là về vườn! Tôi tin rằng không có ai là thánh sống hết. Càng ngồi ở chức vụ lâu thì sớm muộn gì cũng nảy sinh ra nhiều điều tệ hại, tham nhũng! Đó là lý do vì sao nước Mỹ giàu mạnh nhất trên thế giới. Tôi rất ghét những nước nào, dù là tư bản hay cộng sản, có những thằng lãnh tụ ngồi ở ghế tổng thống hay chủ tịch tới ba bốn chục năm! Nước Mỹ ví như một vườn hoa có cả ngàn loại hoa khác nhau, tất cả đều được tự do khoe hương, trổ sắc. Thể chế chính trị tự do và phóng khoáng đã khuyến khích các nhân tài phát triển tối đa và đồng thời thu hút nhân tài từ nhiều nước khác. Người Mỹ chính cống, cứ tạm gọi như vậy, tính từ thế hệ thứ ba trở đi, hình như ít có ai thông minh kiệt xuất. Đa số họ thích làm việc tà tà và enjoy life! Những nhà bác học và những thiên tài lỗi lạc đủ mọi ngành, đa số là những di dân từ các nước khác tới …. Chính những thành phần này đã đem lại cho nước Mỹ ngôi vị vô địch về khoa học, kỹ thuật trong gần một thế kỷ qua. Như vậy cốt lõi của vấn đề là cái thể chế chính trị. Nó đẻ ra tất cả. Giàu sang cũng từ nó mà
ra. Có tự do là hầu như có tất cả. Một khi tim óc của con người không bị bóp nghẹt thì nó có thể sản xuất ra những dạng năng lượng hầu như vô tận, có thể làm nên một quả địa cầu thứ hai!!!
– Ông Chín nói một hơi những ưu tư của ông về nước Mỹ mà ông đã suy nghĩ nhiều từ 5 năm qua. Trong đầu ông luôn luôn có câu hỏi “Tại sao nước Mỹ giàu như vậy”” Ông đã tiếp xúc và làm việc với người Mỹ kể từ năm 1967, lúc đó ông mới có 25 tuổi. Ông thấy đa số họ đều ở dạng thường thường bậc trung, nghĩa là không quá siêng năng mà cũng không quá thông minh, lỗi lạc, nếu không muốn nói là có nhiều thằng hơi … đần! Bà giám khảo tỏ vẻ rất đồng ý với những nhận xét của ông Chín. Bà mỉm cười thật tươi và hỏi tiếp:
– Thế còn điều ông rất ghét nước Mỹ”
Ông Chín nói luôn không cần suy nghĩ:
– Đó là những thằng … ngu làm ra luật pháp để đưa đàn ông xuống dưới đáy xã hội, thua cả con chó!
Bà giám khảo bật cười thành tiếng trước nhận xét hơi ngộ nghĩnh của ông Chín. Bà bắt tay ông và chúc ông mọi điều tốt đẹp. Sau đó ông Chín ra về, lòng cảm thấy vô cùng hân hoan thơ thới. Tuy
nhiên có một vấn đề khiến cho những người bạn của ông thắc mắc, đó là trước đây, ông Chín rất mong muốn được đổi tên Việt thành tên Mỹ, vậy mà 5 năm sau, bỗng nhiên ông và toàn thể vợ con ông đều thay đổi lập trường 180 độ. Bạn bè xúm lại hỏi ông thì ông giải thích như sau:
– Sau 5 năm sống trên xứ Mỹ này, tôi đã thay đổi lập trường. Nước Mỹ là một vườn hoa có ngàn hoa đua nở, mỗi đóa hoa có một nét đẹp riêng biệt. Tất cả tạo thành một bức tranh tổng hợp tuyệt vời. Đó chính là nét độc đáo của nước Mỹ. Cái tên Việt Nam của mình cũng là một đóa hoa, cũng có cái hay, cái lạ của nó. Mắc mớ gì mình phải bắt chước Mỹ, lấy tên Mỹ, chạy theo Mỹ” Tên Việt Nam khó đọc, khó phát âm thì bắt nó phải học, phải nhớ cho quen! Nếu mình thật sự nổi trội thì tự nhiên tụi Mỹ phải theo mình! Có người Mỹ nào mà không biết đến những cái tên quen thuộc, chẳng hạn như Honda, Acura, Mazda, Toyota, Yamaha, Suzuki, Sony … v..v..” Mấy cái tên Mitsubishi, Matsushita khó nhớ lắm chớ! Tại sao người Nhật làm được mà mình làm không được” Cái tên của thằng tài tử điện ảnh Mỹ gốc Đức dài lằng nhằng, đọc muốn trẹo cả lưỡi: Schwarzenegger …. Vậy mà dân ghiền xi nê không ai là không biết nó! Bởi vậy, sau khi suy nghĩ kỹ, tôi quyết định không đổi tên nữa, mấy đứa con của tôi cũng vậy. Người Mỹ nó muốn biết mình thì nó phải thuộc tên mình. Vấn đề là làm sao mình phải nổi trội, vươn lên để xứng đáng cho người ta để ý !!! Mấy cái tên Cầu, Dừa, Đủ, Xoài là đẹp lắm, không có Mai Cồ, mai kiếc, Lin Đa, lin điếc gì hết!!!
Đó là lý luận của ông Chín. Ngoài ra có những thực tế va chạm ngoài đời đã làm cho ông không muốn mang tên Mỹ nữa. Số là có lần ông đến tiệm đo mắt kiếng, xin đo mắt. Cô thư ký người Mỹ hỏi tên ông để ghi vào danh sách chờ, ông Chín phang luôn tên “John” cho tiện. Tất nhiên là tiện cho ông lúc đó nhưng tổ đã trác ông vì khi ông bác sĩ Mỹ mời ông vào, thấy ông tên là John, tưởng ông
là dân Mỹ thứ thiệt từ bao nhiêu đời, cho nên ông bác sĩ Mỹ cứ “coỏng” tiếng Mỹ thoải mái, thao thao bất tuyệt! Ông Chín tái mặt, ấp úng như gà nuốt giây thun. Thấy vẻ mặt sượng sùng, nghệt ra
của ông Chín, ông Mỹ biết rằng ông Chín không hiểu … Thì ra là John … dỏm! Thêm một vài lần nữa ông Chín nói chuyện qua điện thoại, cũng uỡn ngực xưng danh là “John”, làm mấy người Mỹ tưởng
là “đồng hương”, họ tuôn tiếng Mỹ ra làm ông … điếc lỗ tai, nghe thì có nghe rất nhiều nhưng không hiểu gì trớt! Chẳng thà mình cứ xưng tên Việt Nam, nó biết mình không phải là người bản xứ, nó
nói chậm thì cũng đỡ khổ!
Thêm một thùng nước lạnh nữa xối lên đầu ông Chín khi ông tình cờ biết được trong tiếng lóng của Mỹ, chữ “John” có nghĩa là những khách làng chơi, nơi những khu phố đèn đỏ! (Red light district – Khu chơi bời, trác táng) Thì ra tên John cũng chẳng phải là hay ho, cao sang gì! Ông nghe nói có những “John’s School” là trường học dành cho những khách đi chơi điếm, bị cảnh sát bắt. Trường học này cũng từa tựa như trường Phục Hồi Nhân Phẩm của cộng sản vậy, nơi đó các học viên phải học về nếp sống văn minh!
Khi ở Mỹ được hơn hai năm, được cấp thẻ xanh, ông Chín vội bay về Việt Nam một tháng. Dĩ nhiên là ông có đem theo những tấm cạc-vi-dít, có in tên “John Nguyễn” để hù thiên hạ. Nhưng vào thời điểm năm 1995, hào quang của Việt kiều đang bắt đầu bị lu mờ. Nhiều người về quá cho nên đâm ra nhàm, vả chăng đời sống ở Việt Nam cũng đã khá hơn lúc trước. Có lần ông cùng với mấy người bạn
ghé vào một tiệm ăn ở thành phố Đà Nẵng. Sau khi uống một vài chai bia, nhậu lẩu dê, ông cao hứng kể chuyện bên Mỹ cho mấy người bạn và ba bốn cô tiếp viên nghe. Mấy cô lắng nghe ông kể chuyện rất chăm chú, có cô còn âu yếm lấy khăn nóng có tẩm nước hoa thơm lừng ra lau mặt cho ông và rót thêm bia cho ông uống, để có thêm hào hứng mà kể chuyện xứ Mỹ sang giàu … Lúc ra về, nhà hàng đã thân ái đưa cho ông một cái giấy tính tiền với giá cắt cổ: gần 200 đô! Ông Chín bị đau như bò đá nhưng vẫn cố cắn răng móc bóp trả. Không lẽ mình là Việt kiều “sang trọng” mà lại đi kỳ kèo vài trăm đô” Đau hơn nữa là khi bước ra xe, ông Chín nghe từng tràng cười hô hố vang ra từ bên trong tiệm. Ông nghe thật rõ một câu nói của một thằng khốn kiếp nào đó nói thật lớn: “ĐM, Việt kiều thì tính theo việt kiều, cho biết mặt!”
Từ đó ông tởn tới già. Cái bệnh háo danh chỉ làm cho ông khổ. Ông bắt đầu co cụm lại và ý thức thật rõ về thân phận của mình. Tốt nhất là phải giữ lại cái gốc của mình. Ông tin rằng có rất nhiều người cũng lâm vào hoàn cảnh tương tự như ông. Rồi một vài thập niên nữa chắc chẳng còn ai háo hức muốn lấy tên Mỹ làm chi nữa, vì lúc ấy cộng đồng người Việt đã lớn mạnh, có chỗ đứng ngang hàng với những sắc dân khác trong xã hội Mỹ. Và chưa biết chừng lúc ấy lại có phong trào người Mỹ đua nhau lấy tên … Việt Nam! Biết đâu chừng” Lúc ấy những cái tên Việt Nam như Hùng, Dũng, Loan, Hoa, Tuyết, Mít, Xoài Ổi gì đó vân vân, tha hồ mà có giá!!! Ông thầm cám ơn Thượng Đế đã ban phước cho gia đình ông sau 5 năm sống ở Mỹ vẫn chưa bị chia lìa, tan nát. Vợ ông vẫn là người đàn
bà hiền thục, các con ông vẫn ngoan ngoãn, hiếu thảo. Khi ông giảng cho chúng về sự thay đổi lập trường của ông, không lấy tên Mỹ nữa, chúng hoàn toàn đồng ý.
Từ đó những cái tên Cầu, Dừa, Đủ, Xoài vẫn tiếp tục xuất hiện trên những bảng danh dự treo trong các trường trung học và đại học, sánh vai, chen lẫn với những cái tên Mỹ khác như Michael, Linda, Andy, Nancy …

MINH TRANG – Bài tham dự số: 02-312-vb0731 – Viết về nước Mỹ – Vietbao.com

CHÚ THÍCH:

*Tái Ông Thất Mã:

Trong Cổ Học Tinh Hoa có đăng truyện này, nội dung như sau: Tái Ông có một con ngựa, một hôm con ngựa bỗng bỏ đi đâu lạc mất. Người hàng xóm đến an ủi ông về sự rủi ro. Tái Ông nói:”Biết đâu đó lại là cái may”” Quả nhiên, một thời gian sau con ngựa cũ của ông trở về và lại rủ thêm một con ngựa nữa. Người hàng xóm lại đến chúc mừng ông. Nhưng Tái Ông nói:”Biết đâu đó chính là cái rủi””
Quả nhiên thằng con trai của ông thấy có con ngựa mới, bèn leo lên cỡi thử, bị té gãy giò. Nguời hàng xóm thấy vậy bèn sang chia buồn. Lần này Tái Ông lại nói: “Biết đâu đó lại là cái may””
Quả nhiên, trong năm đó đất nước bị loạn lạc, triều đình ra lệnh toàn bộ thanh niên phải đi lính, chống giặc xâm lăng. Thằng con trai của Tái Ông nhờ bị què giò cho nên được miễn lính, hai cha con ở nhà, chung sống bên nhau.

Cái đêm hôm ấy… đêm gì?

Tác giả Phùng Gia Lộc, tháng 6-1988 – Ảnh tư liệu

Cuối năm 1983, tôi được ở nhà chờ quyết định về nghỉ chế độ. Chiều chủ nhật, thằng Học con tôi rủ rỉ nói:

– Con bắt được bác Quang ăn bánh cuốn ở hàng anh Minh. Bác đi thồ sắn ở chợ Phúc Địa về. Bác cho mấy bó nhưng con không lấy. Bác dặn con về đừng nói với bố mẹ là đã gặp bác. Nói, hôm nào sang bác đánh chết.

– Hừ! Lại thế nữa…

Tôi buột miệng bảo với con thế, rồi thừ ra. Bạn bè anh em cùng một phòng với nhau mà đi qua không vào. Có điều gì nhỉ?

Sáng thứ hai tôi sang cơ quan ứng mấy cân gạo và định bụng sẽ gặp, trút sấm sét lên đầu anh ấy. Nghe tôi trách, Lê Trung Quang, trưởng phòng tổ chức Ủy ban huyện Thọ Xuân, cười hà hà làm lành thật đôn hậu, dễ yêu:

– Giá có một mình thì tôi vào. Đằng này những bốn binh, khao được, anh cũng liệt. Vả lại, bốn cái xe nặng è, sợ tối.

Là trưởng phòng tổ chức ủy ban huyện, anh cũng để gia đình vợ con đói thiếu. Ra anh còn kém cỏi hơn cả tôi, một kẻ chân chim trần trụi, một tay sắp trở thành “phó thường dân”. “Nhà mình cũng bí. Nộp sản đi rồi, lúa đã cạn. Khó mà ăn thấu tết được”. Quang lắc đầu bảo thế.

Anh gạn tôi:

– Ông ở đây với tôi đêm nay cho vui. Tôi buồn quá.

Tôi chỉ vào mấy cân gạo đã bó buộc sau xe, bảo anh Quang:

– Phải mang “hàng chiến lược” này về chứ.

Nếu nghe lời Lê Quang Trung nằm lại với anh một đêm, thì tôi đã không thể nào hình dung nổi ở Phú Yên xã tôi Cái đêm hôm ấy là đêm gì…

Có cái “các” quá giang của Lê Trung Quang cho mượn, tôi không phải mất ba đồng tiền đò. Qua sông Chu gió vù vù bên tai, tôi phải kéo vành mũ len, trùm thấp cho đỡ run. Tôi về đến nhà, trời đã sẩm tối, con mực xông ra í a í ẳng vờn chân lên hông. Vợ tôi bế thằng Văn ngủ khì trong lòng, ngồi bên bếp than vỏ cao su um khói. Bên cạnh, thằng cu Thức bốn tuổi đang liến láu. Còn Học – thằng con nhớn đang học bài ở nhà trên.

Thấy tôi về thằng Thức reo lên:

– A bố! Bố về là bố về! Có chi không bố?

– Có cái rét cóng đây này!

Tôi nói rồi dắt xe vào nhà, mở túi gạo, vác xuống bếp khoe:

– Ứng được năm cân gạo.

Bà cụ thân sinh ra tôi mệt đã lâu, thấy tôi về, cũng gượng chống gậy xuống bếp sưởi. Cụ bảo:

– Mẹ Học đi nấu cơm cho bố va ăn!

Tôi hỏi:

– Nhà ăn rồi hả mẹ?

Cái thằng Thức đến là hở miệng, cấm có giấu nó được tí gì. Nó nói:

– Chỉ nấu cơm cho bà với em thôi! Mẹ với anh Học, với con ăn cháo rau má rồi. Bữa nay mẹ luộc rõ nhiều rau cải.

Tôi thấy cay sè trong mắt.

– Thế thì nấu thêm vào. Hết thì tao đi bới đất, nhặt cỏ, van ông vái bà. Làm con người mà miếng cơm chín vào bụng vẫn không đủ thì sống thế nào?

Vợ tôi định cãi câu gì đó, nhưng lại thôi, vội trao thằng Văn cho bà rồi lại mở túi gạo đi vo. Bà cụ nói:

– Rau cải ế nhăn! Đói, chả mấy người mua. Hôm nay mẹ va không đong được gạo. May lấy được đấy, không thì mai gác con lên…

Ngoài cửa gió ào ào, tiếng chó sủa ổng oảng ở đầu ngõ. Có tiếng ai hỏi mua rau cải nhà tôi. Cô Hoa vợ chú Được. Hoa cũng người họ Phùng, gọi tôi bằng bác. Chồng cô ấy là đội trưởng đội sản xuất cũ, nay vừa được rút lên làm trưởng ban định mức, rồi phó chủ nhiệm. Cô vào bếp vừa nói, vừa run:

– Sao năm nay rét sớm thế này? Bác bán cho cháu mấy bó rau cải xào.

Vợ tôi bắc nồi cơm lên bếp, mấy bà cháu phải dồn chỗ cho hai người đàn bà tê cóng này ngồi cạnh bếp hơ tay, ngó chẳng khác những viên đạn bị nén trong cái băng lò xo tròn. Tuy gần bằng tuổi vợ tôi, nhưng là hàng cháu họ, nên Hoa vẫn bác bác, cháu cháu ngon ơ.

– Bác có ngan, gà gì để cho cháu vài cân. Giá mấy cũng được, cháu không quản.

– Còn có vài ba con, phải để hôm sau bà…

Tôi lừ mắt chặn lại câu nói hớ, khiến vợ tôi im bặt. Chả là vì mẹ đẻ ra tôi yếu lắm rồi. Cụ đã bảy mươi lăm tuổi, lại phù nề mặt mũi vàng ủng như quả thị rụng. Ai cũng bảo khó qua cái đầu mùa Đông này. Vì vậy gia đình tôi đã lo chuẩn bị ngầm, phòng sau khi cụ về cõi. Cái gì vợ tôi cũng bảo dành để hôm sau bà… thành quen miệng. Cau cũng phơi kỹ bỏ be để hôm sau, thậm chí bọt bẹt được đồng rau nào cũng dồn mua ván đóng sẵn áo quan để hôm sau… Ấy nhưng nói đến cái chết, cụ lại giận và làm nau: Bay trông tao chết à? Tao phải sống để nhìn con cháu được đến lúc sung sướng chứ. Khổ mãi rồi.

Tôi hỏi Hoa để lấp láp câu hớ rồi cho bà cụ khỏi giận:

– Mua đồ nhậu làm gì tối thế này?

– À… mua cho mấy thằng về đội ta thu sản, khuya các hắn đớp. Đội và quản trị thuê khoán cháu nấu.

Vì có chồng ở ban quản trị, cô ấy cũng là loại biết nhiều chuyện “bí mật nội bộ”. Hoa thì thò cho vợ tôi biết đêm nay là đêm “đồng khởi” thu sản, tổng vét cả xã. Họ sẽ đổi chéo, công an và dân quân đội này về đội kia, vét bằng hết. Vì đội 12 này là nặng gánh nhất, nên họ sẽ điều về đây những tay cứng cựa. Hoa khuyên:

– Bác có thiếu sản, thì liệu mà xoay đi

– Thế thì tao đét bán rau cho mi nữa.

Vợ tôi toan từ chối, nhưng Hoa nài mãi và có tôi nói vào nên chị chàng mới chịu nghe. Hoa cầm đèn ra vườn soi cho vợ tôi hái. Cô ấy cầm rau, rồi còn đi các nhà bên cạnh hỏi mua gà. Cơm cạn, tôi vần cạnh bếp. Vì không phải ghế độn khoai độn sắn gì nên chín rất mau. Thấy chỉ nấu mình cơm tôi, lòng tôi lại buồn nổi gai. Vợ tôi bế thằng út vào lót cho nó ngủ trong buồng, rồi lấy cho tôi cái bát, đôi đũa. Cuộc chào mời đùn đẩy, nhường nhịn nhau rõ bực.

Tôi lùa hai bát cơm với nước dưa chua, rồi bỏ đấy. Bà cụ nài, rồi tôi dỗ thằng Thức cũng lắc đầu không dám ăn chỗ cơm còn lại. Hắn sợ mẹ. Nhà này, mẹ chúng nó có quyền uy tối thượng. Biết vậy, nhưng tôi cũng sắp trở thành kẻ sống nhờ…

Ngồi ở bếp, tôi hỏi vợ:

– Nhà mình còn thiếu của hợp tác xã bao nhiêu thóc nữa em?

Cô ấy không trả lời tôi mà nói rất vô lễ:

– Có biết thế này, đái tòe tòe vào, chứ tội gì lôi về. Cha đời! Bữa trước thì tuyên bố vớt được nấy ăn nấy, người ta mới hụp lặn xuống nước lụt mà khở (gở) từng bông lúa. Nay lại giở trò giảm tỷ lệ!

Tôi vỗ về:

– Thôi! Lụt thì lụt cả làng, em ạ! Em nói xem, so với tổng sản phải nộp, nhà ta thiếu bao nhiêu?

– Một tạ mười hai cân, em đã trình bày với anh Nhà đội trưởng rồi. Thực tế mò được hạt nào đã ăn hết hạt nấy. Mấy lâu nay bán được đồng rau nào mua ăn, không bán được thì nhịn. Đã nói khất rồi. Không cho khất, thì nhà đấy có dỡ được, đến mà dỡ.

– Phải mềm mỏng, em ạ! Khéo bán khéo mua thua người khéo nói! Gia đình mình, con cái mình còn ăn đời ở kiếp nơi đây.

Vợ tôi rền rĩ như sắp khóc:

– Chả nhẽ kiếm liều thuốc chuột, cho vào nồi cháo, ăn hết cả nhà cho sướng cái đời…

Ngồi sưởi ở bếp rất lâu, vỏ cao su cháy tàn, đã vạc hai ba đống than, mà chẳng ai muốn nói với ai câu nào nữa. Bà cụ ngồi lâu, mỏi và chán chuyện bỏ đi nằm. Thằng Học làm toán xong, lấy cho bà nồi than, rồi cũng rúc xuống bếp. Hắn đi bốc rơm lót ổ ngay cạnh bếp, lấy ván chắn rồi trải chiếu, ôm chăn ra nằm.

– Ngủ đây mà ấm, bố ạ!

Trong giường thằng Út Văn khóc í óe. Hắn lại đái lạnh đít rồi. Mẹ nó vào quả không sai. Nó được ôm ra bếp sưởi, nằm gọn trong lòng mẹ. Gần một tuổi mà nó còn bắt nhá cơm bón và bú thì hơn con bê non. Lại nhai tòm tọp thế đó! Tôi đùa với con để nó cười sằng sặc cho dịu cơn lo buồn.

Gần mười hai giờ khuya, cả nhà đi nằm. Tôi ngủ với hai thằng oắt trong ổ rơm dưới bếp.

Có điều gì đó bồn chồn và nơm nớp…

Bỗng tiếng kẻng gõ giục giã liên hồi. Kẻng khắp xã: từ đội 1 đến đội 15, như một sự bùng nổ dây chuyền. Tiếng loa phóng thanh mở hết cỡ đọc bản tin, kế hoạch huy động lương thực của tỉnh và chỉ thị của tỉnh ủy về công tác lương thực.

Hoàng Văn Nhân, đội trưởng đội 12, đọc trên loa danh sách những nhà thiếu thóc chưa giao nộp cho hợp tác xã. Đèn đóm soi rừng rực ở các ngã đường. Chó sủa ơi là chó sủa. Cũng cái loa phóng thanh ấy, có tiếng ông chủ tịch xã gọi cán bộ về đội 12 hội ý.

Ông trưởng công an xã Nguyễn Đình Định gào rát cổ trên loa, giọng giật giội gọi lực lượng dân quân, công an tăng cường về chi viện cho đội 12, tạo đà cho đội hoàn thành chỉ tiêu huy động. Tôi rùng mình nghĩ đội tôi là đội trọng điểm, nên cán bộ xã, hợp tác xã, vón cục cả về đây. Họ sẽ gõ cho ra chục tấn thóc còn tồn sổ.

Gần một giờ sáng, công an, dân quân đã ập đến các nhà nợ thóc. Tiếng chó sủa vang, tiếng lợn kêu èng ẹch như bị chọc tiết ở các nhà gần quanh, làm thằng Út Văn khóc thét lên, ôm riết lấy mẹ. Thằng Thức cũng im thin thít, nằm co trong lòng tôi không dám cựa. Bên nhà ông Ái, láng giềng cách vườn nhà tôi một hàng rào, công an và dân quân đang lùng sục. Tiếng ông bà Ái kêu xin và tiếng quát lác, tôi nghe rõ mồn một.

– Cứ bắt lấy cái xe đạp! Phích, xô, bắt ráo!

Ở cổng nhà tôi đã có bước chân rình rịch, con chó mực đang có chửa bị quất, kêu ử ử.

Cạch cạch cạch.

– Chị cò Lộc, mở cửa ra!

Tiếng thằng bé trong buồng khóc thét. Thằng Thức đang ôm tôi, nghe em khóc cũng òa khóc toáng lên. Thằng Học mười hai tuổi đã học lớp tám rồi, mà cũng níu lưng tôi run bắn. Nghe tiếng quát lần thứ hai, từ nhà bếp, tôi chạy lên. Một luồng đèn pin soi giữa mặt làm tôi lóa mắt, phải lấy tay che.

– Có chuyện gì đấy, các bạn trẻ ơi?

– Thu thóc, thu thóc chứ còn gì, ông đừng hỏi vờ.

Vợ tôi đã mở toang cửa, tay ôm thằng bé ngất lịm. Một anh, hai anh… bốn anh bạn trẻ ùa vào nhà. Anh đi đầu cao to, tóc cắt tăng gô, mặc áo bông thùng thình, soi đèn pin rồi đánh diêm châm cái đèn hoa kỳ ở bàn thờ. Có lẽ Tâm “hộ pháp” là người này. Phải, tôi đã thấy anh ta đứng chân hộ vệ giữa, trong một cuộc đá bóng với xã khác. Tay anh cầm cái choòng sắt cỡ ngón tay cái. Vợ tôi mời họ ngồi ghế. Bà cụ đang ốm ở giường bên cũng cố ngóc dậy, run rẩy chào.

Theo danh sách đội báo, chị còn thiếu hơn tạ thóc. Yêu cầu chị đem nộp ngay!

Bà cụ tôi đáp thay con dâu:

– Các bác các anh ơi! Có còn cái gì mà nộp. Các anh và các bác không thấy đàn con hắn đói xanh đói trong đi à? Các bác không thấy tôi cũng phát phù phát nề, vàng cây úa lá đây à?

– Chúng tôi không hỏi mụ nghe chưa?

Cả bốn người cùng soi đèn pin khắp nhà trong, nhà ngoài, dưới bếp, bên chái. Hai người tuông soi cả trong vườn rau. Vợ tôi mếu máo:

– Làm gì có lúa để ngoài ấy. Các anh xéo nát cả rau.

Tôi chạy ra trụ sở đội, định tìm cán bộ trình bày. Chủ tịch Phê, bạn dạy học với tôi ngày trước, đi bộ đội về giải nghệ, vào cấp ủy, đang đứng đấy. Thấy thế tôi mừng quýnh. Lại thấy cả Phùng Gia Miện anh họ tôi, làm bí thư đảng ủy cũng có mặt, tôi càng yên trí. Nhưng thấy tôi họ quay đi lảng tránh.

Anh Miện bảo nhỏ tôi:

– Chú về động viên gia đình thanh toán bằng đủ, nhà mình là cán bộ. Không có thóc thì nộp bằng tiền. Lãnh đạo đã nhất trí cho nộp cả bằng tiền rồi đó.

Tôi đang định nói: “Đã không có thóc thì làm cóc gì có tiền”, nhưng anh họ tôi đã dịu giọng:

– Ở đội trên, hắn bắt cả anh Thiện, anh ruột tôi, mà tôi cũng phải điếc đi… “Mất mùa màng, lợi ích thứ ba của người lao động phải hy sinh cho lợi ích của nhà nước”. Đồng chí bí thư tỉnh ủy đã chỉ thị thế, chú biết rồi đó.

Lúc ấy ở trụ sở, công an, dân quân đã khuân về nào xe đạp, bàn ghế, tủ, chum vại, thùng tôn, lợn gà… để ngổn ngang ra tận ngõ. Tên chủ nhà thiếu thóc đề chữ bằng phấn trắng vào các đồ vật: Ông Ất, ông Do Khả, ông Hưng, ông Hồng, ông Khính (mẹ đẻ cô Hoa, mẹ vợ chú Được phó chủ nhiệm)… Mấy con bò bị bắt cột gần đó sợ đèn, sợ đám đông cứ lồng lên, chực bút mũi. Chúng xoay vòng quanh, mgửa lên mặt kêu “hấp bồ”, “hấp bồ”…

Tôi loạng choạng đi về nhà, thấy người ta đang còn soi đèn tìm rất kỹ. Tôi nói:

– Các người anh em soi tìm gì cho mất công. Nhà tôi xin khất đến mai, tìm cái bán chác, nộp tiền bằng đủ.

Anh đầu tốp nháy nháy mắt ra hiệu.

– Đêm nay là đêm nay! Mai chúng tôi mất thưởng ai chịu cho?

– Bắt cái xe đạp ni, bay!

Hai ba anh chạy lại. Tôi từ tốn ngăn họ:

– Các đàn anh ơi! Tôi không làm ruộng sản mà. Đây là xe đạp nhà nước cấp cho tôi để tôi đi công tác. Các vị bắt cái này không được đâu.

– Nếu chúng tôi cứ bắt thì sao?

Tôi loáng nghĩ được một mẹo. Rút cái “thẻ hội viên Hội văn nghệ tỉnh” ra, tôi nói:

– Tôi phản đối! Tôi là “nhà báo”! Tôi sẽ kiện lên tận ông Đồng.

Nước cờ của tôi không ngờ lại có hiệu quả. Họ im lặng. Hẳn họ đã biết tên tôi dưới những bài đăng nào chăng.

Chợt vị “hộ pháp” nhìn chằm chằm vào cỗ quan tài để dưới gầm bàn thờ, rồi đi lại, vừa gõ vừa hỏi:

– Cái gì trong này, chị Lộc?

Im lặng…

– Cái gì trong này, chị nói mau?

Vợ tôi ấp úng. Tôi muốn tắc thở.

– Có cái gì đâu…

Mấy vị hăm hở lại, đạp lật nghiêng một cái. Nắp văn thiên bung ra, lúa chảy rào rào. Cả toán reo lên như một hiệp đào vàng trúng vỉa:

– A! Lúa! A lúa! Lúa! Anh em ơi. Ghê thật! Thế mà giả nghèo giả khổ.

Mẹ tôi chống gậy vái dài:

– Van các anh! Cắn rơm cắn cỏ tôi lạy các anh! Lúa của tôi. Đó là tạ lúa hai đứa con gái hắn mua góp lại cho, để hôm sau tôi chết, bà con thương mà chạy đến để ăn lưng cơm sốt.

Thực ra là của hai bà chị trong đó mỗi người có mười cân thôi. Ba mươi chín cân tiêu chuẩn hai tháng vừa qua tôi lấy về, còn lại là hơn bốn mươi cân, vợ tôi đong để dành “hôm sau” cho bà.

Bà cụ nói như rên rẩm:

– Đã bảo xay phứa đi cho con nó ăn không nghe. Cứ bóp mồm bóp miệng, để dành làm chi. Sống chả thấy đâu nữa là!

Một tay râu tóc lồm xồm hỏi:

– Chị có gánh đi hay không thì bảo?

Một tay khác tôi hơi quen mặt, đến trước vợ tôi lạy lia lịa:

– Thôi em xin bà chị. Em đi làm ở đây thế này, nhưng lại có bọn khác đến chỗ em làm ác y hệt. Nhà em cũng thiếu mà. Chị không gánh, để cánh này bê cả hòm ra, chị phải chịu hai chục công là ít, chưa nói phạt tiền.

Họ xúm vào khiêng bàn thờ ra, để lôi hòm lúa. Bất đồ hai thằng Học và Thức từ bếp tuôn lên, ôm lấy tay chân chư vị, van rối rít.

– Cháu van các chú! Các chú đừng lấy lúa này đi. Lâu nay các cháu phải nhịn để dành bữa sau cúng cỗ bà, làm ma bà!

– Buông ra đi! Ô hay, đồ con nít!

Bà cụ loạng choạng đi lại, giơ gậy cản:

– Các ông không thương trẻ, thì các ông thương lấy thân già, để lấy phúc đức cho con cháu.

Vì họ đá vấp gậy, lại yếu như con căng cắc lột, bà cụ ngã chỏng queo như chiếc ghế đổ.

– Ối Đảng ôi là Đảng ôi! Chính phủ ôi… Trông xuống mà coi…

Tôi xốc mẹ lên giường, bịt mồm cụ lại:

– Mẹ! Mẹ không được la như thế! Đây không phải Đảng! Đảng ta không làm thế. Đảng không chủ trương thế này!

Tôi nói vậy và ngoặp hai hàm răng vào cổ tay mình để kìm giữ cái gì cứ chực tung ra. Hai vợ chồng xúc hết lúa ra thúng bì. Dặn thằng Học trông em, ngó bà, tôi cùng vợ hì hục gánh thóc ra trụ sở nộp…

Đoạn cuối này tôi dành cho anh Quang.

Lê Trung Quang ơi! Anh có thể giấu cái bi kịch của gia đình anh, nhưng tôi không còn có thể che giấu nỗi đau của nhân dân bất hạnh. Dù sự tiết lộ này có làm mất cái chức huyện ủy viên của anh, thì tôi cũng thấy cứ phải nói ra.

Chuyện thật của nhà anh đây: lúa vay ăn còn nợ bảy tạ, con Lâm, thằng Sơn phải đi mò hến từng bữa, chị ấy nấu bánh đúc đi các làng đổi lúa. Anh mà nói ra, người ta cho là anh bêu riếu. Việc thật ở nhà tôi đêm 26 tháng 11 năm 1983, người ngoài cuộc hẳn cho là mình bịa. Cho đến nay, mỗi khi nghĩ đến, tôi cứ thảng thốt hỏi mình: “Cái đêm hôm ấy… đêm gì?”.

PHÙNG GIA LỘC – Cuối năm 1987

Lang thang Thái Lan (1)

Gọi là lang thang thì không đúng lắm vì nhà mình đi có 9 ngày, nhưng cứ tạm gọi như vậy đi. Nếu không thể gọi lang thang thì gọi là lòng vòng một chút cũng được
DSC_0261

Vé:

Lại bắt đầu chuyện vé, không có vé thì làm sao đi, nhỉ. Tháng 11/2013 mình đã lo săn vé rẻ rồi, ngày 25/11 đẹp trời thấy Airasia bán vé ngày đi 24/5/2014 giá rẻ. Giá chỗ ngồi: 0 USD, thuế phí sân bay Don Muang: 23 USDx3pax = 69 USD, phụ phí nhiên liệu: 8USD x 3 pax = 24 USD. Sub total là 93 USD. Để chắc ăn, mình mua thêm bảo hiểm hết 10.2 USD. Vị chi hết 103.2 USD (khoảng 2.1tr, tức khoảng 7 trăm một vé). Đi trong nước có rẻ như vậy không nhỉ ?!
Mình đã lên kế hoạch chỉ mua vé chiều đi còn thì là ở Bangkok xong đi tàu dọc dọc lên Chachoengsao, lên SaKaeo rồi tới cửa khẩu Aranyaprathet (Poi Pet phía bên Cam), vượt qua đất Cam vào SiemReap, ngủ lại 1 đêm, bắt tàu thủy về lại Phnom Penh sau đó về Sài Gòn bằng buýt. Ước mơ thì đẹp đẽ mơ màng lộng lẫy vậy đó. Nhưng tới gần ngày đi, bu nó biểu hông được, anh phải đổi tuyến đi, đi nhanh về nhanh cho em đi làm con đi học. Lệnh ông không bằng cồng bà, lại phải lên Airasia dọ tìm vé về, và rồi cũng tìm được vé về hơi mắc một chút, cả 3 người từ Don Muang về lại Sài Gòn hết 4540THB (khoảng 3triệu). Túm cái lại, vé đi – về là 5.2tr chia cho 3 người, mỗi người hết 1,7 triệu.

Chỗ ở:

Lần đi này xui nha, gửi request cho 3 người trên couchsurfing trong đó 1 người Phi, một người Nhật, một người Thái nhưng cả ba đều không hồi đáp. Hề hề, chắc là những cái request của mình không trau chuốt lắm hay do tình hình chính trị bên Thái không ổn nên họ không nhận. Không nhận thì cũng gửi từ chối cái chứ nhỉ, chả bù cho hồi đi Singapore gửi phát có mấy cái hồi âm liền. Thôi thì không được host thì mình tìm nhà trọ vậy, coi trên booking.com thấy giá cũng tàm tạm và book luôn một chỗ trên Ayutthaya. Thế nhưng lòng cũng ấm ức lắm vì không có dịp ở với dân bản địa. Xui cái này nhưng lại hên cái khác, mình kể sau vậy.

NOR trong tiếng Thái nghĩa là chim

NOK trong tiếng Thái nghĩa là chim

Ngày xuất phát thiệt là thoải mái con gà cái (mái), ăn ngủ phủ phê tới tận 9 giờ sáng, chất ba lô lên, chất người lên xe máy, tằng tằng chạy ra gửi ở Tân Sơn Nhất, vào check-out, ngồi đợi một lát rồi mới được gọi lên máy bay. Máy bay Airasia từ Thái mới qua trả khách xuống Tân Sơn Nhất, dọn dẹp quét tước xíu, xong lại rước khách lên đi Thái luôn, giúng xe đò ngày Tết nhỉ (^o^).
Ngày xuất phát là 24/5, trước đó ngày 22/5 quân đội Thái đảo mất cái chính sau 2 ngày ban bố tình trạng thiết quân luật trên gần như toàn bộ tỉnh thành Thái. Giỡn à bay, công tớ thiết kế bấy lâu nay, chả lẽ bỏ đi hả, phép hai vợ chồng thì sếp hai bên đã ký cho rồi. Thế là cũng làm một số động tác, lên facebook của TAT (Tourism Authority of Thailand) facebook.com/TATHochiminh nhảy vào hỏi, hỏi xong thấy bạn í trả lời là hông có chi mô anh ơi, anh cứ đi đi, hông chết mô. Tránh đừng chọc vô chỗ nhạy cảm cho em là được. OK, ai rảnh mà dí mũi vô chỗ nhạy cảm chi. Trước bữa đi, bà chị cũng gửi email forward cái email công ty của chỉ, cảnh báo và hướng dẫn nhân viên chi nhánh bên Thái hạn chế đi lại, nếu có thể thì xách laptop về làm ở nhà. Sướng à nha.

Thẳng tiến Ayutthaya bằng tàu chợ

Mình có biết Ayutthaya là chỗ mô mô, toàn nghe Pattaya, Phi Phi gì gì đó, nhưng hôm host 2 bạn người Đức chúng nó chỉ cho mình, biểu mình trên đó kiến trúc đẹp, giá cả phải chăng lại không xa Bangkok chi mấy. Mình ngẫm, ừ há, đi Thái mà lại đi mấy vùng giáp biển thì đi làm gì cho uổng tiền. Biển thì ở Vũng Tàu, Phan Thiết, Nha Trang, Đà Nẽng có mà đầy ra. Thôi thì đi lên phía bắc vậy.

DSC_0032

check-in xong thì theo mũi tên là ra khỏi sân bay

Xuống sân bay Don Muang thì đổi ít tiền baht dằn túi, check-in xong thì xuống tới quầy thông tin xin bản đồ và hỏi đường đi ra bến ga tàu chợ. Bữa trước khi đi cũng có tìm hiểu, khách đi đơn lẻ phải chứng minh có 700USD mới cho vào, làm bu nó phải nhiệt tình qua bà chị mượn thêm 700USD dằn túi. Nhưng chú hải quan chả hỏi gì, chỉ lật lật, liếc liếc dòm mặt cái, dòm hộ chiếu cái rồi cộp cộp, đóng mộc cho qua. Chỗ quầy thông tin, họ cắt cử nhân viên ra săn đón du khách nhiệt tình lắm, hỏi anh cần chi em giúp, như kiểu bên mình hay cắt cử mấy cậu ra lề đường săn khách vào quán ăn vậy. Một ấn tượng ban đầu khá tốt về du lịch Thái. Tuy nhiên, bản đồ thì chỉ có Bangkok còn Ayutthaya thì không có, chắc phải lên tới trển mới có.

DSC_0037

Thích mấy cái taxi màu hường rồi à nha

Lại được chỉ băng qua cầu vượt sang bên kia đường là tới nhà ga ngay. Tiện văn lợi nhỉ. Mua vé đi Ayutthaya cách Don Muang khoảng 60 cây 11Baht/người lớn, 6Baht/trẻ em, vị chi hết 28 Baht (có 20 ngàn à, rẻ thối nhĩ). Ra bến chờ nhưng không biết đi Ayutthaya thì đứng ở platform nào nên ra hỏi chú cảnh sát, chú chỉ chỉ trỏ trỏ thì rồi cũng hiểu.

DSC_0042

Lục khục hoét hoét

Đứng chờ một lát thì tàu khùng khục chạy tới, đúng là tàu hạng 3, hèn chi rẻ. Cả toa có mỗi vài ba cái quạt trần tí hi, trời lại nóng, tàu chạy khùng khục, lắc lư đều đều, lâu lâu hoét hoét còi cái, lại chạy khùng khục, lắc lư đều đều, lâu lâu hoét hoét còi cái làm buồn ngủ muốn chết. Maki gục vào vai bô nó để ngủ. Trong toa, chốc chốc phải lấy tay phẩy phẩy đuổi hoa bồ công anh bị hút từ ngoài vào la đà la đà, chỉ sợ hít tọt vào mũi.

DSC_0044

Quang cảnh nông thôn bên đường tàu

Lần hồi rồi cũng tới Ayutthaya, ngồi nghỉ lát thì ra xe tuk tuk đi về nhà trọ. Gặp trúng anh tài xởi lởi gạ mua day-tour và biểu chở miễn phí về nhà trọ, nếu không mua tour thì tiền xe tuk tuk 100 Baht (7 chục). OK, thoải con gà mái đi. Mua luôn cho ngày mai. Nhưng có một điểm thấy ưng cái bụng là khi mua tour như vậy, chả phải cọc kiếc gì hết, chỉ nói miệng với nhau sáng mai 9h đón, nhá, nhá. Thế là xong hợp đồng.

DSC_0050

I will take care you !!!

Ayutthaya là thị xã khá nhỏ, tuk tuk chạy vào thị xã, đường khá sạch chứng tỏ họ khá chăm chút cho du lịch. Thỉnh thoảng lại thấy đền gạch, cái thì còn tốt cái thì tan hoang.

DSC_0052

Hoa phượng nở đỏ rực, chứng tỏ trời khá nóng

Còn trục đường chính thì bao giờ cũng có cái cổng chào và hình ảnh nhà vua Bhumibol Adulyadej của Thái (chẳng biết phát âm kiểu nào cho đúng nữa, sorry !!)

DSC_0194

Dân Thái chạy xe bán tải hơi bị nhiều, xe tiện dụng có thể chở 5 người và 1 tấn hàng.

Nhận phòng nghỉ ngơi xong tối ra dạo dạo, khám phá ra ở đây có cái dịch vụ mà mình rất bồ kết: Máy giặt công cộng và máy bán nước lọc, tất cả đều xài bằng tiền xu.

DSC_0282

Nếu đi nơi đây thì chẳng cần xách theo nước làm gì cho nặng, vì thấy cây nước này có ở khắp nơi. Máy bán nước uống ghi toàn bằng chữ Thái, chả đọc được đành phải thử nghiệm. Quả đầu tiên nhét xu 5B (35 ngàn), đưa cái bình 1,5L vào hứng, nước đầy mà máy bơm vẫn cứ chạy, nước tràn tùm lum Maki cười khoái chí. Lần sau rút ngay cơm nguội, nhét 1B thôi, thế là vừa ngay cái bình. Trời nóng, đi bộ nhiều thấy cái này là tiện lợi, rẻ nhất.

Nguyên Nhân Thành Công Của Những Người gốc Do Thái ???

Bài hay quá, xin lén mượn cụ Phan về nhà trưng 

 

Theo Nguyễn Hải Hoành  5/9/2009 Dong Tac

 

Cả một dân tộc giỏi làm kinh tế

Chúng ta đều biết người Do Thái (thời cổ gọi là Hebrew) là dân tộc thành công nhất trên nhiều lĩnh vực trí tuệ, nhưng có lẽ ít ai biết họ thực ra còn cực kỳ xuất sắc trên mặt kinh tế, tài chính, thương mại.

Họ đạt được những thành tựu đó trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn: toàn bộ dân tộc Do Thái buộc phải sống lưu vong phân tán, “ăn nhờ ở đợ” suốt 2000 năm qua trên khắp thế giới, đi tới đâu (trừ ở Mỹ) cũng bị xa lánh hoặc hắt hủi, xua đuổi, tước đoạt, thậm chí hãm hại, tàn sát vô cùng dã man, bị cấm được sở hữu bất cứ tài sản cố định nào như nhà đất, tài nguyên thiên nhiên ….

Chỉ cần lướt các mạng tìm kiếm là ta có thể sưu tầm được ngay một số thành tựu cực kỳ gây ấn tượng của người Do Thái trên lĩnh vực kinh tế, dù là về mặt lý thuyết hay thực tiễn. Hãy xem một số số liệu sau đây:

Rất nhiều nhà lý thuyết kinh tế hàng đầu thế giới là người Do Thái, các lý thuyết họ xây dựng nên đã ảnh hưởng vô cùng to lớn nếu không nói là quyết định tới quá trình trình tiến hóa của nhân loại:

– Karl Marx (Các Mác) người khám phá ra “giá trị thặng dư” và xây dựng học thuyết kinh tế chủ nghĩa cộng sản sẽ thay thế cho chủ nghĩa tư bản, được gọi là một trong hai người Do Thái làm đảo lộn cả thế giới (người kia là Jesus Christ);

– Alan Greenspan 17 năm liền được 4 đời Tổng thống Mỹ tín nhiệm cử làm Chủ tịch Cơ quan Dự trữ Liên bang (FED, tức Cục Dự trữ liên bang Mỹ) nắm quyền sinh sát lớn nhất trong giới tài chính Mỹ, thống trị lĩnh vực tài chính tiền tệ toàn cầu;

– 41% chủ nhân giải Nobel kinh tế thời gian 1901-2007 là người Do Thái (cộng 13 người), chẳng hạn Paul Samuelson (1970), Milton Friedman (1976) và Paul Krugman (2008) … là những tên tuổi quen thuộc trong giới kinh tế thế giới hiện nay, các lý thuyết của họ được cả thế giới thừa nhận và học tập, áp dụng…

Nhiều nhà giàu nổi tiếng thế giới từng tác động không nhỏ tới chính trị, kinh tế nước Mỹ và thế giới là người Do Thái. Đơn cử vài người :

– Jacob Schiff, chủ nhà băng ở Đức, sau sang Mỹ định cư; đầu thế kỷ XX do căm ghét chính quyền Sa Hoàng giết hại hàng trăm nghìn dân Do Thái ở Nga, ông đã cho chính phủ Nhật Bản vay 200 triệu USD (một số tiền cực kỳ lớn hồi ấy) để xây dựng hải quân, nhờ đó Nhật thắng Nga trong trận hải chiến Nhật-Nga năm 1905. Nhớ ơn này, trong đại chiến II Nhật đã không giết hại người Do Thái sống ở Trung Quốc tuy đồng minh số Một của Nhật là phát xít Đức Hitler có nhờ Nhật “làm hộ” chuyện ấy.

– Sheldon Adelson, người giàu thứ 3 nước Mỹ năm 2007, với tài sản cá nhân lên tới 26,5 tỷ USD.

– George Soros giàu thứ 28 ở Mỹ (7 tỷ USD) nổi tiếng thế giới hiện nay về ý tưởng đầu tư và làm từ thiện quy mô lớn.

– Michael Bloomberg có tài sản riêng 5,1 tỷ USD, làm thị trưởng thành phố New York đã 8 năm nay với mức lương tượng trưng mỗi năm 1 USD và là chủ kênh truyền hình Bloomberg nổi tiếng trong giới kinh tế, đang được mong đợi sẽ là ứng cử viên Tổng thống Mỹ khóa tới…

Cộng đồng Do Thái ở Mỹ chiếm một nửa tổng số người Do Thái trên toàn thế giới là quần thể thiểu số thành công nhất ở Mỹ dù chỉ chiếm 2,5% số dân. Khoảng một nửa số doanh nhân giàu nhất Mỹ, 21 trong số 40 nhà giàu đứng đầu bảng xếp hạng của tạp chí Forbes là người Do Thái, và cộng đồng Do Thái có mức sống bình quân cao hơn mức trung bình của nước này.

Họ nắm giữ phần lớn nền kinh tế tài chính Mỹ, tới mức người Mỹ có câu nói “Tiền nước Mỹ nằm trong túi người Do Thái”. Nhờ thế trên vấn đề Trung Đông chính phủ Mỹ xưa nay luôn bênh vực và viện trợ Israel.

Nước Israel nhỏ bé với hơn 5 triệu người Do Thái tuy ở trên vùng sa mạc khô cằn nhưng nông nghiệp và các lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹ thuật đều rất phát triển, dân rất giàu, GDP đầu người năm 2003 bằng 19.000 USD. Nhờ sức mạnh mọi mặt ấy, quốc gia nhỏ xíu này đã đứng vững được trong làn sóng hằn thù và công kích của cả trăm triệu người A Rập xung quanh …

Nguyên nhân do đâu?

Vì sao người Do Thái giỏi làm kinh tế trên cả hai mặt lý thuyết và thực hành như vậy? Lịch sử đã chứng minh, yếu tố quyết định thành công của một dân tộc bắt nguồn từ truyền thống văn hóa của dân tộc ấy.

Để tìm hiểu truyền thống văn hóa của dân tộc này có lẽ ta cần tìm hiểu các nguyên tắc chính của đạo Do Thái (Judaism), tôn giáo lâu đời nhất thế giới còn tồn tại tới ngày nay và là chất keo bền chắc gắn bó cộng đồng, khiến dân tộc này giữ gìn được nguyên vẹn nòi giống, ngôn ngữ, truyền thống văn hóa mặc dù phải sống phân tán, lưu vong và bị kỳ thị, xua đuổi, hãm hại, tàn sát dã man suốt 2000 năm qua.

Có thể nói, nếu không có chất keo ấy thì từ lâu dân tộc Do Thái đã bị tiêu diệt hoặc đồng hóa và biến mất khỏi lịch sử. Đạo Do Thái là tôn giáo duy nhất thành công trên cả hai mặt: giữ được sự tồn tại của dân tộc và hơn nữa đưa họ vươn lên hàng đầu thế giới trên hầu hết các lĩnh vực trí tuệ.

Muốn vậy, ta thử điểm qua vài nét về Kinh thánh của người Do Thái (Hebrew Bible) – kinh điển này hơn 10 thế kỷ sau được đạo Ki-tô lấy nguyên văn làm phần đầu Kinh Thánh của họ và gọi là Cựu Ước, nhằm phân biệt với Tân Ước do các nhà sáng lập Ki-tô giáo viết. Ta cũng cần xem xét một kinh điển nữa của đạo Do Thái gọi là Kinh Talmud, quan trọng hơn cả Cựu Ước, có đưa ra nhiều nguyên tắc cụ thể cho tới thời nay vẫn còn giá trị về kinh doanh, buôn bán.

Trước hết người Do Thái có truyền thống coi kiến thức trí tuệ là thứ quý nhất của con người.

Kinh Talmud viết: Tài sản có thể bị mất, chỉ có tri thức và trí tuệ thì mãi mãi không mất đi đâu được. Các ông bố bà mẹ Do Thái dạy con: Của cải, tiền bạc của chúng ta đều có thể bị kẻ khác tước đoạt nhưng kiến thức, trí tuệ trong đầu óc ta thì không ai có thể cướp nổi.

Với phương châm đó, họ đặc biệt coi trọng việc giáo dục, dù khó khăn đến đâu cũng tìm cách cho con học hành; ngoài ra họ chú trọng truyền đạt cho nhau các kinh nghiệm làm ăn, không bao giờ giấu nghề. Người Do Thái có trình độ giáo dục tốt nhất trong các cộng đồng thiểu số ở Mỹ, thể hiện ở chỗ họ chiếm tỷ lệ cao nhất trong sinh viên các trường đại học hàng đầu cũng như trong giới khoa học kỹ thuật và văn hóa nghệ thuật.

Thứ hai, đạo Do Thái đặc biệt coi trọng tài sản và tiền bạc. Đây là một điểm độc đáo khác hẳn đạo Ki-tô, đạo Phật, đạo Nho, ta cần phân tích thêm.

Có lẽ sở hữu tài sản là một trong các vấn đề quan trọng nhất của đời sống loài người, là nguyên nhân của cuộc đấu tranh giữa con người với nhau (đấu tranh giai cấp) và chiến tranh giữa các quốc gia. Heghel, đại diện nổi tiếng nhất của triết học cổ điển Đức từng nói: “Nhân quyền nói cho tới cùng là quyền (sở hữu) về tài sản.” Chính Marx cũng nói: Chủ nghĩa cộng sản “là sự phục hồi chế độ sở hữu của cá nhân trên một hình thức cao hơn”.

Rõ ràng, chỉ khi nào mọi người đều có tài sản, đều giàu có thì khi ấy mới có sự bình đẳng đích thực, người người mới có nhân quyền. Một xã hội có phân hóa giàu nghèo thì chưa thể có bình đẳng thực sự. Đạo Do Thái rất chú trọng nguyên tắc làm cho mọi người cùng có tài sản, tiền bạc, cùng giàu có.

Triết gia Max Weber viết: “Đạo Ki-tô không làm tốt bằng đạo Do Thái, vì họ kết tội sự giàu có.” Quả vậy, Chúa Jesus từng nói: “Lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào nước Chúa” (Tân Ước, Mathew 19:24), ý nói ai giàu thì khó lên thiên đường, ai nghèo thì dễ lên thiên đường hơn – qua đó có thể suy ra đạo Ki-tô thân cận với người nghèo khổ. Nho giáo và đạo Phật lại càng khinh thường tài sản, tiền bạc, coi nghèo là trong sạch, giàu là bẩn thỉu.

Ngược lại Cựu Ước ngay từ đầu đã viết: “Vàng ở xứ này rất quý” (Genesis 2:12). Ý tưởng quý vàng bạc, coi trọng tài sản vật chất đã ảnh hưởng lớn tới người Do Thái, họ đều muốn giàu có.

Khái niệm tài sản xuất hiện ngay từ cách đây hơn 3000 năm khi vua Ai Cập bồi thường cho vị tổ phụ của bộ lạc Do Thái là Abraham, khiến ông này “có rất nhiều súc vật, vàng bạc” (Genesis 13:2). Thượng Đế Jehovah yêu cầu Abraham phải giàu để có cái mà thờ cúng Ngài. Thượng Đế cho rằng sự giàu có sẽ giúp chấm dứt nạn chém giết nhau. Khi Moses dẫn dân Do Thái đi khỏi Ai Cập cũng mang theo rất nhiều súc vật.

Những người xuất thân gia đình giàu có hồi ấy như Jacob, Saul, David … đều được Cựu Ước ca ngợi là có nhiều phẩm chất tốt, lắm tài năng, lập được công trạng lớn cho cộng đồng dân tộc và đều trở thành lãnh đạo, vua chúa. Ngược lại, văn hóa phương Đông thường ca ngợi phẩm chất của những người nghèo.

Trọng tiền bạc là đặc điểm nổi bật ở người Do Thái.

Họ coi đó là phương tiện tốt nhất để bảo vệ mình và bảo vệ dân tộc họ. Quả vậy, không có tiền thì họ làm sao tồn tại nổi ở những quốc gia và địa phương họ sống nhờ ở đợ, nơi chính quyền và dân bản địa luôn chèn ép, gây khó khăn.

Hoàn cảnh ấy khiến họ sáng tạo ra nhiều biện pháp làm giàu rất khôn ngoan. Thí dụ cửa hiệu cầm đồ và cho vay lãi là sáng tạo độc đáo của người Do Thái cổ đại – về sau gọi là hệ thống ngân hàng. Buôn bán cũng là một biện pháp tồn tại khi trong tay không có tài sản cố định nào.

Người ta nói dân Do Thái có hai bản năng: thứ nhất là bản năng kiếm tiền; thứ hai là bản năng làm cho tiền đẻ ra tiền – họ là cha đẻ của thuyết lưu thông tiền tệ ngày nay chúng ta đều áp dụng với quy mô lớn (còn ai kiếm tiền dễ hơn ngành ngân hàng?).

Tuy vậy, sự quá gắn bó với tiền bạc là một lý do khiến người Do Thái bị chê bai. Bạn nào đã đọc tiểu thuyết Ai-van-hô (Ivanhoe) của Walter Scott chắc còn nhớ mãi hình ảnh ông lão Do Thái Isaac (I-sắc) đáng thương, bố của nàng Rebeca xinh đẹp và thánh thiện, lúc nào cũng khư khư giữ túi tiền và bị hiệp sĩ Đầu Bò nhạo báng khinh bỉ thậm tệ. Kịch của Shakespeare đưa ra nhiều hình ảnh khiến người ta có cảm giác người Do Thái bần tiện, ích kỷ, xảo trá. Tập quán cho vay lãi của người Do Thái bị nhiều nơi lên án.

Hệ thống cửa hiệu của người Do Thái ở Đức là đối tượng bị Quốc Xã Hitler đập phá đầu tiên hồi thập niên 30. Người Đức có câu ngạn ngữ “Chẳng con dê nào không có râu, chẳng người Do Thái nào không có tiền để dành.” Karl Marx từng viết: Tiền bạc là vị thần gắn bó với người Do Thái; xóa bỏ chủ nghĩa tư bản sẽ kéo theo sự xóa bỏ chủ nghĩa Do Thái.

Người Do Thái có đóng góp rất lớn về lý thuyết và thực hành trong việc xây dựng nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.

Đạo Do Thái coi làm giàu là bổn phận nặng nề của con người; nói “nặng nề” vì người giàu có trách nhiệm to lớn đối với xã hội: họ không được bóc lột người nghèo mà phải chia một phần tài sản của mình để làm từ thiện. Những người Do Thái giàu có luôn sống rất giản dị, tiết kiệm và năng làm từ thiện. Soros từng cúng 4 tỷ USD (trong tổng tài sản 7 tỷ) cho công tác từ thiện. Không một nhà giàu Do Thái nào không có quỹ từ thiện của mình. Từ đây có thể hiểu được tại sao cộng đồng Do Thái lại cùng giàu có như thế.

Tại sao người Do Thái thông minh?

Cuốn START-UP NATION, của Alphabook đăng một số bài viết liên quan tới những câu chuyện về nền kinh tế thần kỳ của Israel. Đính kèm là một bài viết “quảng cáo”.

” Người Do Thái là dân tộc thông minh nhất thế giới, họ dường như được sinh ra là để làm chủ thế giới này”. Có bao giờ bạn tự hỏi tại sao họ lại thông minh như vậy? Tại sao họ lại được sinh ra với quá nhiều ưu việt như thế? Có phải tất cả đều là tự nhiên? Liệu Việt Nam chúng ta có thể tạo ra những thế hệ ưu việt như thế không?
Tất cả câu hỏi trên đều có thể giải đáp được, ngoại trừ câu hỏi cuối cùng vì nó sẽ được trả lời bởi chính các bạn, những con người của dân tộc Việt Nam. Bài viết dưới đây được lược dịch từ luận án của một tiến sĩ nước ngoài với tiêu đề gốc là “Why Jews Are Intelligent” (tạm dịch là “Vì sao người Do Thái thông minh”).
Trước hết xin được cung cấp một số thông tin tìm hiểu được về IQ (Intelligence Quotient) của người Do Thái. Hiện nay các nhà nghiên cứu về giáo dục và tâm lý tin rằng IQ trung bình của người Do Thái vào khoảng từ 110. Để so sánh thì IQ trung bình của thế giới là 100 và IQ trung bình của người Việt Nam là 94. Cách biệt sẽ không rõ ràng nếu chỉ nhìn vào những con số này. Mọi thứ sẽ trở nên thực sự khác biệt nếu như ta so sánh đến tỉ lệ (“thiên tài” IQ>=140 – cũng là mức yêu cầu trong số dân).

Với IQ TB của dân số là 94 thì tỉ lệ “thiên tài” sẽ là 1/924 hay 0,1%, tỉ lệ này sẽ là 1/261 hay 0,4% nếu IQ TB là 100. Sự khác biệt sẽ cực lớn vì với mức IQ TB là 110 như người Do Thái thì tỉ lệ những người có IQ đạt mức thiên tài này sẽ lên tới 2,3% (nghĩa là cứ 100 người sẽ có hơn 2 thiên tài).

Bài này tôi lược dịch và tổng hợp từ nhiều nguồn, nhân dịp nghe chuyện người Do Thái và vì thầy hướng dẫn hiện tại của tôi là một Giáo sư người Do Do Thái. Để mở đầu, xin được trích dẫn rằng, dân số Do Thái ở Anh có tên tuổi khiến tôi đi hết từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác.

Do Thái trên thế giới hiện nay vào khoảng xấp xỉ 13 triệu người (tức là khoảng 0.21% dân số thế giới – số liệu năm 2000), tức là cứ 470 người thì có 1 người Do Thái. Vậy nhưng, vào khoảng giữa thế kỷ 19, 1/4 các nhà khoa học trên thế giới là người Do Thái, và tính đến năm 1978, hơn một nửa giải Nobel rơi vào tay người Do Thái. Như vậy có đến 50% đóng góp cho sự tiến bộ của loài người chỉ do 0.21% dân số đảm nhiệm.
Những tên tuổi lớn của thế kỷ 20 có thể kể đến như bộ óc thế kỷ Albert Einstein, Sigmund Freud, Otto Frisch, .v.v. đều là người Do Thái. Dù không phải là chủng tộc lớn, vậy nhưng không một nhóm chủng tộc nào có thể sánh được với người Do Thái về khả năng và thành tích vượt trội. Kết hợp với những tính cách di truyền của người Do Thái như tham vọng, ham hiểu biết, tích cực, trí tưởng tượng phong phú, bền bỉ, sự thông minh của người Do Thái thực sự đã là đòn bẩy khiến người Do Thái đứng đầu trong tất cả các lĩnh vực cuộc sống.

Những tên tuổi Do Thái hiện nay có thể kế đến là nhà tài phiệt George Soros (người có thể làm khuynh đảo thị trường tài chính thế giới, được xem là người đứng sau sự sụp đổ hệ thống chính trị ở Đông Âu và khủng hoảng tài chính Châu Á 1997); các cựu và chủ tịch Ngân hàng thế giới World bank đương nhiệm đều là người Do Thái ví dụ như James Wolfensohn, Paul Wolfowitz, Robert Zoellick. Diễn viên điện ảnh thông minh và có học thức thuộc hàng top Hollywood hiện nay là Natalie Portman cũng là người Do Thái, vừa theo học đại học Havard và tham gia bộ phim siêu phẩm Chiến tranh giữa các vì sao”.
Trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống như kỹ thuật, âm nhạc, khoa học và kinh doanh, 70% các hoạt động kinh doanh thế giới hiện nay đều do người Do Thái nắm giữ. Các lĩnh vực kinh doanh nổi bật như mỹ phẩm, thời trang, thực phẩm, vũ khí, khách sạn, công nghiệp phim ảnh (kể cả Hollywood và các trung tâm điện ảnh khác).

Trong năm thứ 2 đại học, vào tháng 12 năm 1980, tôi định đến California và tôi nảy ra ý tường, tôi tự hỏi sao trời lại cho họ những khả năng siêu phàm như vậy, liệu có điều gì trùng hợp chăng, loài người có thể tạo ra những người giống họ như việc sản xuất hàng hóa từ nhà máy không? Luận văn của tôi mất 8 năm để tập hợp thông tin từ tất cả các nguồn tin chính xác như đồ ăn, văn hóa, tôn giáo, sự chuẩn bị khi mang thai, .v.v. và tôi đem so sánh với những chủng tộc khác.

Người Do Thái ở Mỹ
Hãy bắt đầu bằng việc chuẩn bị cho thai kỳ. Ở Israel , điều đầu tiên tôi nhận thấy đó là người mẹ khi mang thai sẽ thường xuyên hát, chơi đàn, và luôn cố gắng giải toán cũng chồng. Tôi rất ngạc nhiên khi thấy người mẹ luôn mang theo sách toán và đôi khi tôi giúp cô giải bài. Tôi hỏi cô, ‘việc này có phải là giúp cho thai nhi?’. Và cô trả lời, ‘Đúng vậy, tôi làm thế là để đào tạo đứa trẻ từ khi còn trong bụng mẹ như vậynó sẽ trở nên thông thái về sau.’ Và cô tiếp tục làm toán cho đến khi đứa trẻ được sinh ra.
Một điều khác tôi nhận thấy là đồ ăn. Người mẹ rất thích ăn hạnh nhân (almonds), chà là (dates) cùng sữa tươi. Bữa trưa cô ăn bánh mỳ và cá (không ăn đầu), salad trộn với hạnh nhân và những loại hạt khác vì họ tin rằng thịt cá tốt cho sự phát triển trí não nhưng đầu cá thì không. Thêm vào đó, theo văn hóa của người Do Thái, người mẹ khi mang thai sẽ cần phải uống dầu gan cá. Khi tôi được mời đến dùng bữa tối, tôi thấy rằng họ luôn dùng cá (phần thịt ở mình cá), họ không ăn thịt vì họ tin rằng thịt và cá khi ăn chung sẽ không tốt cho cơ thể.
Salad và các loại hạt là điều bắt buộc, đặc biệt là hạnh nhân. Họ luôn ăn hoa quả tươi trước bữa chính. Lý do là vì họ tin rằng việc ăn bữa chính trước rồi hoa quả sẽ khiến chúng ta buồn ngủ và khó tiếp thu bài ở trường.

Thây kệ người ta

Đối thoại giữa bố và con gái

Quán ăn rất đông

Bố: Con ăn xong thì giấy lau, xương xẩu phải bỏ vào giỏ rác, không được vứt xuống nền quán đâu đấy.

Con: Nhưng con thấy mọi người vẫn vứt mà …

Bố: Mình nên giữ sạch sẽ, quán sạch thì mình cũng sạch.

Con: …Vả lại con có thấy cái giỏ rác nào đâu. Con có gom bỏ lên bàn thì tí nữa cô phục vụ cũng lùa tuốt xuống chân thôi bố ạ.

Bố: Thây kệ người ta, con

Chờ đèn giao thông

Con: Bố ơi, cô giáo biểu: Đèn đỏ dừng lại, đèn xanh mới được đi. Sao đèn còn đỏ mọi người đã vọt rồi. Người phía sau bấm còi inh ỏi, miệng lại lầm bầm cái gì thế bố.

Bố: Ừ, đèn xanh bật thì mình mới đi con ạ. Cô giáo con nói trúng phóc con cá lóc rồi còn gì.

Con: Thế mấy người đó không được cô giáo biểu thế ạ.

Bố: Chắc là cô giáo của ai cũng dạy thế, nhưng họ tốt nghiệp mẫu giáo lâu quá rồi nên hơi quên đấy thôi.

Con: Nhưng mà cô giáo con còn biểu, nếu mà đi như thế là không an toàn mà còn phạm luật giao thông nữa đấy.

Bố: Thôi, thây kệ người ta đi con.

Mua hàng

Con: Bố ơi, tại sao ta phải xếp hàng như thế này, con mỏi chân lắm rồi.

Bố: Mỏi cũng phải xếp. Thế trên trường con có phải xếp hàng, tay đặt lên vai bạn phía trước không.

Con: Dạ, có chứ ạ. Nhưng con thấy cô kia hồi nãy vào gửi xe cùng mình mà bây giờ cô ấy chen vào phía trước được đó kìa.

Bố: Cô ấy sẽ bị người ta nhìn khó chịu lắm đấy, con có muốn thế không.

Con: Dạ, không ạ. Có lẽ mọi người cũng không yêu cô ấy lắm. Nhưng con còn thấy nhiều người, hình như không thấy mọi người đang xếp hàng hay sao ấy mà tọt lên phía trước luôn, bố ạ.

Bố: Thây kệ người ta đi con.

Chạy xe trên đường

Con: Bố ơi, hồi nãy con thấy chú ấy chạy xe trước mình, nhổ toẹt một bãi xanh lè thấy mà gớm.

Bố: Ừ, bố cũng cảm thấy mưa giữa trưa hè nó phết vào mặt bố.

Con: Nhưng mà, ở nhà bố biểu muốn khạc nhổ phải chạy vào toa lét mà. Ở trên đường thì làm gì có toa lét, bố.

Bố: Đường cũng là toa lét. Thây kệ người ta đi con. 

Lại chạy xe trên đường

Con: Bố dòm kìa, có con chuột cống chết, nằm phanh thây máu loe loét trên đường. Bố chạy khéo, không lại cán qua nó đấy.

Bố: Bố thấy nó từ xa rồi. Ra đường không dòm chừng chuột chết thì còn dòm cái gì nữa hả con.

Con: Gứm quá, con cũng thấy nhiều lần rồi, nhưng tại sao người ta thích quăng xác chuột cống ra đường thế bố nhỉ.

Bố: À, chắc họ thích cảm giác mạnh, con à.

Con: Kỳ vậy, vậy sao không đi coi phim ma. Xác động vật chết thì kiếm khoẻn đất nào nho nhỏ chôn đi, lại còn làm phân cho cây nữa mà. Con đọc thấy đâu đó nói rồi mà.

Bố: Đất đâu mà chôn con. Bây giờ chết cũng mắc tiền lắm. Thôi kệ thây con chuột đi con.

Một nước Nhật quá xa xôi!

Người Việt trong nước hầu như ai cũng mơ nước mình hiện đại, giàu có như Singapore, Nhật Bổn, Hàn Quốc thế nhưng tâm lý cầu vừa đủ xài, tính cách âm tính, duy tình như người Việt thì e rằng giấc mơ vẫn chỉ là giấc mơ thôi. Cũng có nhiều người mới đi ra nước ngoài về thì híp mắt, nuốt nước miếng ừng ực vì sự sạch sẽ quy củ giàu có, nhưng thấy người ta tất tả đi bộ như tên bắn trong giờ cao điểm, lên tàu điện tranh thủ chợp mắt thì lại tặc lưỡi, thôi chả thèm, ở Việt Nam sướng hơn, làm gì thì làm cuối ngày cùng vợ con chơi bời thong dong. Trong công việc hay đầu tư thì thích ăn xổi, một phát là ăn ngay mà không nghĩ rằng để có sản phẩm bền, tiện dụng như của Nhật họ đã tỉ mẩn chăm chút từng chút một trước khi đến tay người sử dụng. Tư tưởng muốn “đi tắt đón đầu”, xây lâu đài trên cát, ăn cắp, bớt xén tủn mủn đã hằn sâu trong nếp nhăn, khó có thể thay đổi được. Không thay đổi được tính cách, người Việt không xây dựng được đất nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa và vẫn mãi lẽo đẽo chạy theo bưng tráp cho dân nước khác mà thôi. 

Xin vô phép mà bê nguyên bài của học giả Vương Trí Nhàn về nhà. Tuy bài viết chẳng mở đường gì cho tụi trẻ chúng cháu cả, nhưng đọc thì cũng để biết mình là đứa nào trong thế giới này. Đành rằng, cũng có kẻ nói, nếu Nhật Bổn tốt thế sao vẫn có nhiều điều chướng tai gai mắt, vẫn có kẻ cầm dao đâm người hàng loạt ở chợ Akihabara năm nào, vẫn có kẻ chặt đầu người treo trước cổng trường như qua lời thầy giáo người Nhật mình kể. Nhưng dầu sao thì xã hội vẫn là xã hội, không thế thì làm sao ra cái xã hội. Tốt xấu, trái phải lẫn lộn. Chẳng có cái gì là ngon lành cành đào toàn tập cả.

 

Một nước Nhật quá xa xôi!
23-02-2014

Cộng với những hiểu biết vốn có từ trước năm ngày du lịch bụi ngắn ngủi, đủ để tôi cảm thấy xã hội Nhật, người Nhật là cả một hình ảnh đảo ngược của xã hội Việt, người Việt

8 – 6 -2013nui-phu-si
Xuất phát từ Hà Nội, sau một chuyến bay đêm hơn bốn tiếng đồng hồ, chúng tôi bắt đầu một ngày mới trên chiếc xe từ sân bay Narita về Tokyo. Không khí dịu mát như một ngày cuối thu đầu đông ở đồng bằng sông Hồng, song cái lạnh ở đây lại có khí vị vùng biển bắc, cái cảm giác mà tôi cảm nhận khi đến Leningrad vào năm 1988.

Nhìn chung quanh, thấy khung cảnh thoáng rộng sạch sẽ, cây cối đạm bạc. Ghé lại một trạm bên đường để xe mua xăng, bắt gặp không khí của nước Nhật bình thường, người nào người nấy chăm chú vào công việc.
Có cái lạ là, khi đến Tokyo, tôi cũng lại gặp một khung cảnh vắng lặng như vậy. Không những trên đường người đi bộ thưa thớt mà cả ô tô đi lại cũng ít. Trong khi đó, lại biết rằng Tokyo có đến 20 triệu dân và hàng ngày có đến 40 triệu người lai vãng. Nơi tôi tới chỉ là ngoại ô chăng? Thành phố chính ở đâu? Như đã đoán được thắc mắc của tôi, người hướng dẫn du lịch sớm giải thích, đây chỉ là phần trên mặt đất, còn trong lòng đất có đến bốn thành phố nữa. Ở đó cũng có giao thông, xe điện ngầm, những phố buôn bán; ở đó mặc dù rất đông, nhưng rất trật tự.

Ngày đầu xa lạ
Địa điểm đầu tiên chúng tôi đến tham quan là phía ngoài hoàng cung Nhật. Cũng như mọi người dân nội địa, chúng tôi không được vào tham cung điện chính của hoàng gia, chỉ được đứng và quan sát từ xa và nghe người giới thiệu kể chuyện lại về một cuộc sống rất khổ hạnh của những người sống trong cung điện đó.
Người Nhật quen chấp nhận tình trạng cách ly này bởi họ hiểu những người sống trong hoàng cung phải nhận vai hình mẫu của nước Nhật, có nghĩa phải chịu rất nhiều áp lực. Có những người con gái trong đó cảm thấy thật nhẹ nhõm nếu lấy được người chồng dân thường, ra khỏi hoàng cung, để được sống như mọi người bình thường.
Buổi chiều chúng tôi đến thăm ngôi nhà của Tòa thị chính, ở đây có tháp truyền hình cũ, từ đó có thể nhìn ra cả Tokyo.
Có điều mất vui là ngay trong buổi chiều đầu tiên này, đoàn du lịch chúng tôi đã có một người bỏ trốn. Khi cả đoàn lên tháp rồi lần lượt xuống dần thì anh ta lẩn mất. Sau mới biết, từ Hà Nội anh ta đã chuẩn bị để làm việc này. Cái ba lô còn lại trên xe ô tô của anh nhẹ tênh. Theo sự giải thích của người hướng dẫn, có lẽ đây là một người Việt được bố trí sang Nhật để trộm cắp thuê. Dân Việt có hộ chiếu bên đó, khi phát hiện ăn cắp thì sẽ bị trục xuất khỏi nước Nhật. Nên họ phải thuê những người trong nước sang làm chân rết. Người này có bị tống về thì cũng không mất đầu mối.
Trong lúc vẩn vơ chờ làm các thủ tục, khoảng hơn một tiếng đồng hồ, tôi nhìn quanh khu Tòa thị chính, thấy một không khí vắng vẻ. Nhớ nhất là hình ảnh một cô gái dắt hai con chó đi đường. Cô chăm sóc chúng hết sức cẩn thận. Khi chúng đói lấy thức ăn và theo dõi chúng ăn, bình thản chờ đợi như bà mẹ đang đi chơi với những đứa con thân yêu của mình.

Tâm thế mới của phụ nữ Nhật
Để giải tỏa nỗi chán chường của bọn tôi, người hướng dẫn giới thiệu một tình thế của người dân Nhật mà trước kia chúng tôi không thể tưởng tượng nổi.
Anh cho biết , hiện nay ở nước Nhật có đến 62% người sống độc thân. Nếu nhìn trên đường, chúng ta luôn thấy những người đàn ông chăm chú nhìn về phía trước. Họ buồn, như là một thứ nhân vật phụ của cuộc đời. Còn chính phụ nữ mới là những người đầy sức sống và thách thức.
Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật –từ nhỏ, đã được nghe câu nói ghi nhận sự tận tụy của người phụ nữ Nhật với gia đình.kimono nguoi nhat
Sau chiến tranh, khi nước Nhật bắt tay khôi phục kinh tế, người đàn ông tập trung vào công việc của mình và ít khi về nhà trước 7h tối. Mọi việc liên quan tới gia đình và con cái đặt cả lên vai vào người đàn bà. Họ tự nguyện làm như thế cả đời.
Hôm nay đây tôi còn chứng kiến cảnh một đôi ông bà già trên đường; khi tới chỗ nghỉ, người phụ nữ rút chiếc khăn mù xoa trong túi ra mời chồng mình ngồi.
Nay mẫu phụ nữ loại đó chỉ còn thưa thớt.
Bề ngoài người phụ nữ Nhật không tự biểu hiện lộ liễu như người Việt. Màu sắc phần lớn trang phục là màu trắng, màu xám và màu đen. Như đang tự giấu mình đi. Không ai tô son, trát phấn… Nhưng cuộc sống bên trong thì, theo anh hướng dẫn viên, thực sự nồng nhiệt. Khoảng mươi, mười lăm năm gần đây, phụ nữ Nhật nổi loạn, nhiều người không lấy chồng vì không thích phụ thuộc vào gia đình chồng và rất tự lập trong đời sống riêng tư.
Ở Nhật, đời sống tình dục được coi bình thường như cơm ăn nước uống và phụ nữ có phố đèn đỏ của mình. Ở đó, đối tác của họ là những thanh niên mới lớn và lấy việc thỏa mãn nhu cầu phụ nữ làm nghề phụ. Người ta có cách giữ bí mật cho cả hai bên.
Trong túi đàn bà, từ em thanh nữ mới lớn đến đám sồn sồn tuổi trung niên luôn có ca-pốt. Và họ chủ động tìm tới những đối tượng để có thể thỏa mãn những khát khao bất chợt nhưng chính đáng.
Trong các món quà trao nhau nhân ngày lễ tết, chính phụ nữ là màu nóng, còn nam giới được tượng trưng bởi màu lạnh.

9 – 6

Niềm vui với những công việc bình thường
và tính tự lập được rèn từ nhỏ
Buổi sáng chủ nhật, bọn tôi đến khi vui chơi Disney Land nổi tiếng. Ấn tượng lớn nhất, vẫn là những người phụ nữ làm công việc như hướng dẫn người đi tham quan và bảo vệ trật tự chung quanh đó. Những công việc có vẻ tẻ nhạt như thế được người Nhật làm với tất cả niềm vui và sự háo hức khiến người Việt chúng ta gần như không thể hiểu nổi. Đứng bên cạnh những đoàn xe lửa làm theo lối cổ, các nhân viênphục vụ không những ân cần giúp đỡ cho người lên xe, mà còn tình cảm vẫy chào khách lên đường, rồi lại hào hứng đón khách xuống khi hết vòng quay.
Người hướng dẫn du lịch giải thích thêm với chúng tôi, người Nhật rất nghiêm túc trong việc công. Tất cả công chức đi làm đều mặc Âu phục. Với họ, làm công chức không phải chỉ để kiếm tiền mà để phục vụ xã hội, việc làm hợp đạo nghĩa làm người.
Một ấn tượng khác, là trẻ con trên nước Nhật rất ngoan và quen tự lập. Trên đường mỗi trẻ có túi thức ăn riêng, tự lấy thức ăn khi muốn. Thông thường các em đi theo người lớn rất đàng hoàng. Một ngày ở công viên không nghe tiếng khóc nào của bọn trẻ.
Người Nhật có tinh thần tự trọng cao độ. Trong hoàn cảnh nghèo khó, ít khi chấp nhận sự giúp đỡ của người khác mà làm được cái gì thì hưởng cái đó. Điều đó được rèn từ nhỏ. Ở trường nuôi dạy trẻ, từ lúc biết bò, đứa trẻ đã phải tự bò đến bàn thức ăn để lấy thức ăn. Ở lớp lớn hơn, đứa trẻ tự gấp lấy quần áo và lo giữ vệ sinh.

Từ chuyện giao thông tới chuyện pháp luật
Đã hơn chục lần đi theo các đoàn du lịch nước ngoài, tôi thấy trên xe thường người Việt Nam chỉ hay pha trò đùa bỡn, trêu chọc nhau, bàn chuyện ăn uống, nói tục. Đa số người mình đi du lịch để làm dáng, để tiêu tiền, không mấy ai tính chuyện đi để hiểu biết về xứ sở mà mình đặt chân tới. Những người hướng dẫn du lịch Trung quốc chẳng hạn, rất hiểu cái sự tầm thường đó. Trên xe, thể theo yêu cầu của người mình, họ nói những chuyện trong thâm cung bí sử, nhưng toàn thứ vụn vặt gây tò mò. Nói chung trình độ những người hướng dẫn cho các đoàn VN ở các nước gần ta rất thấp. Người có chí chắc đi học tiếng Anh tiếng Đức chứ chả ai chịu học tiếng Việt làm việc với các đoàn Việt.
May mắn lần này chúng tôi gặp người hướng dẫn khác hẳn. Anh cũng là người Việt. Sang Nhật học, sau đó nhập quốc tịch Nhật và đưa cả vợ con sang đó. Trong những lúc rỗi trên xe, anh Đức (tôi không biết họ, chỉ nhớ tên) giới thiệu với chúng tôi rất nhiều về đặc sắc của nước Nhật, và điều đó rất cần thiết với những người từ Việt Nam tới.
Ví dụ có lần anh nói về chuyện giao thông trên đường.
Chúng ta biết rằng người Nhật đi lại rất từ tốn và người ta nhường đường nhau khi có việc cần tranh chấp. Trong câu chuyện của mình, anh Đức có lưu ý thêm một điều. Luật pháp được soạn thảo rất tỉ mỉ và nói cho cùng là rất nhân bản. Một mặt nhà nước bố trí cảnh sát theo dõi tốc độ của xe trên đường, nhưng mặt khác, họ cho phép các nhà sản xuất cung cấp cho lái xe các thiết bị cần thiết có khả năng cho biết chỗ nào cảnh sát giao thông đứng bắn tốc độ, để tự động điều chỉnh lại. Tức là người làm luật muốn bảo vệ quyền được đi nhanh hơn của xe cộ trong hoàn cảnh cho phép.
Sự áp đặt luật pháp của những người cầm quyền ở đây cũng là rất mềm dẻo.
Khi có người lái xe phạm lỗi, cảnh sát, từ lúc yêu cầu giữ lại đến lúc lên xe để đặt vấn đề phạt, đều có thái độ lịch sự tôn trọng đối tác, tìm cách thân thiện bàn bạc, chứ không phải một chiều hạch sách rồi muốn bắt người ta thế nào cũng được. Khi không thống nhất được với nhau, họ để dành quyền phán xét cho tòa án,– cố nhiên đó không phải loại tòa án bao giờ cũng nhăm nhăm bênh cảnh sát như người nước mình. Danh tính của những người bị phạt không bao giờ bị làm lộ.
Tôi cho đó mới là sự tôn trọng, sự khuyến khích người dân sống và làm theo luật pháp một cách hữu hiệu.

Pháp luật — một bên nặng về răn đe
trừng trị và một bên biết “cận nhân tình”
Có lần đọc cuốn Đông Á – Đông Nam Á – Những vấn đề lịch sử và hiện tại (nx b Thế giới, 2004), thấy ông Vũ Minh Giang (Đại học Quốc gia Hà Nội) nói tới những điểm tương đồng trong tổ chức nhà nước của Việt Nam và Nhật Bản có nhấn mạnh cả hai bên đều chú trọng pháp luật (sách trên tr. 62).
Hôm nay nhớ đến đoạn này bỗng thấy phì cười. Vì sự thật trong khi ở nước người, chính quyền hết sức tôn trọng và đặt mình vào trong pháp luật thì ở mình, pháp luật được soạn ra để áp dụng với dân, chứ nhân viên công quyền đều hiểu ngầm rằng mình là người đứng ngoài. Mà người dân cũng vậy, thấy pháp luật là chuyện phiền phức, song mặc nhiên chấp nhận, lại còn tìm thấy niềm vui trong việc làm ngược pháp luật. Trừng phạt răn đe nặng nề đến độ dã man được xem như một sự cần thiết.
Để hiểu tính mềm dẻo mà chặt chẽ của pháp luật ở Nhật Bản, hãy trở lại câu chuyện về nhu cầu phụ nữ, phố đèn đỏ, mua dâm và bán dâm. Một mặt theo phong tục tập quán cổ, luật nước Nhật cấm tất cả sự tiếp xúc nam nữ ở dạng trần trụi. Thế nhưng đồng thời họ vẫn thấy con người Nhật Bản đã thay đổi, nên các nghị sĩ khi làm luật đã nghĩ ra cách để bảo vệ sự tiếp xúc này, không để dân bị ràng buộc vào luật một cách máy móc. Ví dụ như họ sẽ phạt nếu một trong hai bên không có vật lạ trong người khi tiếp xúc. Mà vật lạ này hiểu theo nghĩa rất rộng, nếu phụ nữ có một vòng đeo tay hoặc người đàn ông có một cái răng giả thì tức là đã không phạm luật. Thế thì còn phạt được ai nữa? Những điều này, theo tôi rất nhân đạo. Còn thuần túy truy bức như ở ta là bất cận nhân tình và sẽ sinh ra gian dối.

Các cửa hàng đồ cũ và thói quen cộng tác trong mọi việc
Nhân khi vào cửa hàng đồ cũ, anh Đức giới thiệu cho chúng tôi biết ở Nhật, loại hàng này có cả một hệ thống phân phối. Những năm 70 – 80 người dân bình thường có thói quen thải loại đồ cũ ra theo hình thức rác và người Việt Nam sang nhặt mang những đồ cũ đó đem về trong nước. Nay họ có ý thức thu gom và phân phối lại. Nhân đây, anh Đức kể về việc tổ chức làm ăn ở xứ này. Là khi có một công việc hợp lí thì nó cũng được phổ biến khắp nước Nhật. Những người cùng ý tưởng tự tổ chức thành những công ty, không có người nào đứng ngoài công ty đó mà có thể cạnh tranh với họ được. Người Việt mình dành được miếng mồi thì ăn lẻ, không ai cộng tác được với nhau, mà chỉ dìm dập nhau, phá nhau. Ở Nhật, nếu một người có sáng kiến chung thì sẽ đưa ra để phục vụ lợi ích chung.

10 – 6
Chung quanh núi Phú Sĩ
Tối hôm qua, ngủ đêm tại khách sạn thuộc khu Hà Khẩu Hồ (tôi đọc theo âm Hán Việt) thuộc khu vực núi Phú Sỹ, chúng tôi có cảm tưởng như lạc vào gia đình người Nhật. Ăn một bữa cơm theo kiểu gia đình người Nhật vẫn ăn. Xong, được bố trí đến khu vực tắm. Nam chung một bên, nữ một bên, nhưng đã xuống tắm phải bỏ hết quần áo. Đêm, được bố trí ngủ lại căn phòng như của người Nhật. Việc xâm nhập sâu vào phong tục ăn ở như thế trong những lần đi các chuyến khác, bọn tôi không có dịp thực hiện.
Sáng dậy, đi quanh hồ, tôi chợt nhận ra rằng nhà cửa ở đây cũng nhô ra thụt vào mà không có lớp lang trật tự như mạn Giang Nam bên Trung Quốc. Vườn hoa ở các gia đình hay các công sở không nổi bật lên vẻ rực rỡ mà trông hơi có vẻ khổ hạnh và chỉ gợi chú ý bởi lùm cây hoặc một tảng đá nào đấy. Tất cả khu vườn quy tụ chung quanh vào vật trung tâm đó. Ngoài ra cây cỏ trong vườn thì kém, cỏ mọc rườm rà, thiếu một sự xử lý công phu. Các công viên chỉ lo tạo ra sự kì bí mà tảng đá có vai trò vật chủ và mối liên hệ giữa đá và cây là nhân tố chính gợi nên một vẻ đẹp.

Ngồi xe lên núi. Các tài liệu du lịch đều nói rằng Phú Sĩ là biểu tượng của đất nước mặt trời mọc. Trước khi lên đến trạm 5 ở độ cao 2000m, chúng tôi phải vượt qua hàng chục cây số rừng. Nhưng khi đến nơi, ngôi miếu trên trạm 5 đó khá đơn sơ. Nói chung, chùa chiền của Nhật không hào nhoáng, lộng lẫy như đền chùa của Trung Quốc. Thu hút du khách nhất là việc đứng ở đấy chiêm ngưỡng cả ngọn núi trong tuyết phủ.
Đối với người Nhật, núi Phú Sỹ là biểu tượng cao nhất của sự thiêng liêng. Người ta theo dõi để không ai có thể lấy đi hòn đất nào chung quanh núi. Đã có những khách nước ngoài đến, định lấy những hòn đất đi và đều bị phát hiện.
Chung quanh núi là khu vực huyền bí, người ta nói có những người Nhật đã đến đây để sống những ngày cuối đời, tức là tự tử ngay trong khu rừng trùng điệp mà mãi về sau người ta mới phát hiện ra. Số người này đang tăng hàng năm.

Ấn tượng sau nửa ngày ròng ngồi ô tô
Từ giã Phú Sỹ, bọn tôi tới Owakudani, nơi có vết tích của miệng núi lửa phun trào cách cây 3000 năm. Sau đó, là chặng đường dài tới Nakoné và Nagoda.
Trước lúc qua Nhật, một người quen cũ đã nói rằng, do du lịch bụi, chắc là bọn tôi không có điều kiện để sử dụng những phương tiện hiện đại nhất như tàu cao tốc và phải di chuyển từ địa điểm nọ đến địa điểm kia bằng ô tô. Ông nói điều đó với sự ái ngại vì ở Nhật số người di chuyển bằng ô tô rất ít. Nhưng đối với tôi, cảm tưởng là được ngồi ô tô đi trên những con đường nhựa nhẵn bóng và hiện đại của nước Nhật cũng đã sung sướng lắm. Nữa là, sau một buổi chiều như thế, lại có may mắn gần như được nhìn gần vào một nước Nhật và hiểu thêm điều người ta hay nói “Xứ này nghèo về tài nguyên và chỉ có một thiên nhiên khắc khổ, nhưng đã chinh phục được thiên nhiên khắc khổ đó để trở thành một xứ giàu có.”
Nhìn một hai ngôi nhà lắt lẻo giữa một triền núi xa, tôi hỏi Đức họ sống ra sao thì được trả lời:
— Một gia đình Nhật định cư ở đâu thì chính phủ Nhật có trách nhiệm làm đường tới đó, bảo đảm hàng hóa lưu thông tới đó để họ có thể sống bình đẳng với mọi người.

Có một chuyện mà ở nhà tôi đã biết nhưng chưa thấy hết ý nghĩa của nó, đó là việc người Nhật không khai thác tất cả những rừng cây và vùng mỏ cũng khá giàu có của mình. Tất cả những đồ gỗ ở đây đều nhập từ nguồn lâm sản nước ngoài, cũng như các khoáng sản cần thiết cho công nghiệp của họ. Đối chiếu với cách nghĩ Việt Nam, kể ra đây cũng là một sự lạ. Và lạ hơn hết là người Việt chúng ta còn cho chuyện tàn phá tài sản thiên nhiên là chuyện thường, không bán hết đi thì lấy gì mà ăn.

Nông thôn đô thị chung một mặt bằng
Lúc này trước mắt du khách không còn là một nước Nhật của các cao ốc và các khu đô thị thoáng đãng. Vùng đất nằm rải rác giữa núi non và bãi biển không có gì là hấp dẫn và mĩ lệ như các vùng biển của Việt Nam mình. Nhưng ở bất cứ nơi nào có điều kiện thì người nông dân Nhật vẫn cần cù sản xuất. Cảm giác còn lại trong tôi là một nước Nhật giống như một mặt bằng, giữa nông thôn và thành thị gần như không có sự chênh lệch. Nay, là thời, theo Đức kể, người nông dân Nhật làm ruộng bằng cách đi thuê các xí nghiệp nông nghiệp làm cho họ. Và đã có các hãng lớn chuyên làm nông nghiệp phụ trách giúp họ từ việc chọn giống, cày bừa đến bón phân và thu hoạch. Người nông dân chỉ việc ở nhà dùng tiền của mình đầu tư chứng khoán.
Người Nhật đặc biệt lo bảo vệ nguồn lương thực của mình, tạo cho xứ sở một thứ thức ăn không những ngon lành mà còn bảo đảm chuẩn khoa học không gạo nước nào có thể có được. Đã có những thời gian mà chính phủ Nhật do áp lực quốc tế phải nhập một số gạo của các nước khác, khi mang về phân phối cho dân thì không đâu người ta lấy, đến cả cho không cũng không ai nhận. Cuối cùng, số gạo đã mua buộc phải đem đi dùng làm hàng viện trợ cho các nước khác.

Đặt người Việt bên cạnh người Nhật
Cũng nhân thời gian rỗi trên đường xa, Đức kể với tôi về chuyện những người Việt Nam ở Nhật. Đức cho biết thật ra sau 4-1975, số người Việt sang Nhật không phải là ít, nhưng số có thể trụ lại được ở Nhật thì không nhiều và phần lớn là họ phải bỏ qua bên Úc hoặc bên Mĩ làm ăn. Việc du nhập vào cộng đồng Nhật, đòi hỏi sự nỗ lực đặc biệt mà người Việt không quen, chưa kể tiếng Nhật với nhiều người là khó học.
Chưa quen là như thế nào? Dù là mới tiếp xúc với người Nhật và văn hóa Nhật một cách đơn sơ, tôi vẫn có cảm tưởng người Nhật với người Việt Nam như hai đối cực, người nọ là thế giới đảo ngược của người kia.
Người Nhật có tinh thần gắn bó với xã hội, cấu kết với cộng đồng còn người Việt khôn lỏi, chạy vặt.
Người Việt thích phô trương còn người Nhật giấu mình sau vẻ ngoài bình lặng.
Người Việt ồn ào, lắm chuyện coi nơi công cộng là chỗ tự do buông thả còn người Nhật sợ nhất làm phiền người khác cũng như là bị làm phiền.
Bữa qua Miến Điện, tôi nhận ra một điều là không hiểu sao người bên đó có vẻ ít nói, trên đường không có cảnh vừa đi vừa cầm điện thoại tán chuyện. Có thể người Miến Điện không có tiền mua các loại máy mới? Nhưng Nhật là một nước giàu có. Sao dân họ vẫn không có thói nói lắm nói nhiều và xả ra cả khối lượng rác âm thanh ngập ngụa trên mọi ngả đường? Chợt nghĩ chính sự nói lắm nói nhiều nói một cách ba vạ đã giết chết sự suy nghĩ của người mình. Nó làm cho chúng ta thành một xã hội câm nín trước các vấn đề rất lớn đang phải đối mặt.

Xuất khẩu lưu manh
Hôm nay có đến hơn một giờ đồng hồ liền, Đức toàn kể chuyện người Việt sau 4-1975 tràn sang Nhật làm những việc gian dối như cờ bạc trộm cắp ra sao, cảnh sát Nhật đã từng bước đấu trí với người Việt để vô hiệu hóa các đồng bào lưu manh của chúng ta thế nào.
Chuyện đấu trí ấy tôi định ghi mà không sao theo dõi kịp nên đành bỏ. Chỉ nhớ nhất một chi tiết. Có nhiều người Việt sau khi kiếm bẫm bằng con đường bất chính trở ,liền lấy cái vốn thu được từ nước ngoài về làm vốn kinh doanh và trở thành đại gia.
Từ việc này nẩy ra hai ý nghĩ bổ sung:
1/ Ở các xã hội lành mạnh, đám nhà giàu là những người con ưu tú của dân tộc, họ như đầu tầu kéo cả cộng đồng đi theo. Ở một xã hội cách mạng dở dang rồi biến chất như ở ta, nhất là ở căn cứ miền bắc ”xã hội chủ nghĩa” một thời gian dài không công nhận tài sản cá nhân, thì ngược lại, đám nhà giàu phần lớn là đám lưu manh, khoác áo quan chức làm việc lưu manh. Họ phất lên trong chiến tranh bằng cách buôn lậu những hàng quốc cấm xuyên quốc gia. Với những đồng tiền kiếm được bằng các thủ đoạn xấu xa, khi trở về nước làm kinh tế, họ có góp phần thúc đẩy sự làm ăn và vì thế cả người dân lẫn chính quyền hoan nghênh họ. Nhưng lùi xa mà nhìn, thì thấy đóng góp của những người này không thấm là bao so với sự phá hoại những nguyên tắc đạo đức, tức những tác hại lâu dài, mà họ mang lại.
2/ Ngoài số đại gia trên, hiện còn không ít người Việt, đang sống vất va vất vưởng theo kiểu ăn cắp vặt, buôn lậu, làm thuê làm mướn ở xứ người.
Nhớ hồi chống Mỹ bộ máy tuyên truyền của ông Tố Hữu cứ nhét vào đầu mọi người dân cái ý nghĩ Ta chiến đấu thế này không phải chỉ vì ta. Ta đang chiến đấu cho cả thế giới. Ta đang trở thành lương tâm nhân loại… .
Có phải hỡi miền Nam anh dũng!
Khi ta đứng lên cầm khẩu súng
Ta vì ta ba chục triệu người
Cũng vì ba ngàn triệu trên đời!
Kỳ cục quái gở thế mà ai cũng tưởng thật và ai cũng thích.
Được những tư tưởng kiểu đó quấn chặt vào đầu, nhiều người Việt sau 4-75 ra nước ngoài, tự cho phép mình làm tất cả những việc xấu xa nhất, bất chấp luật pháp nước sở tại và những nguyên tắc đạo đức thông thường. Một cuộc xuất khẩu thói lưu manh đã kéo dài chưa biết bao giờ chấm dứt.

11 – 6
Thăm các di tích lịch sử
Tham quan chùa Thanh Thủy. Ấn tượng nhất không phải là ngôi chùa, mà là cách dựng công trình tôn giáo này. Cách nó bám vào chân hòn núi đá. Cũng lại là một biểu tượng của tinh thần bám trụ của con người vào một thiên nhiên khắc nghiệt.
Buổi chiều tới ngôi Chùa Vàng. Đọc chữ Hán, thấy chính ra chùa này phải gọi là Kim Các tự mới đúng. Tôi thích cả không gian chung quanh chùa và cả cái cách người ta tạo ra ấn tượng đối với người tới tham quan.
Có một điều tôi thấy tin, là những chi tiết người ta trình bày về ngôi chùa, cái giá trị cổ kính của nó. Các di tích ở Việt Nam thường có những bảng giới thiệu rất luộm thuộm, nhiều lúc có cảm tưởng do những người không hiểu biết viết ra.
(Còn nhớ là lần vào Văn miếu năm 2010, khi đọc tiểu sử Khổng Tử, thấy viết là Đức Thánh Khổng “có đến bốn tác phẩm gọi là Tứ Thư”. Điều này sai vì bốn tác phẩm đó có tên là Luận ngữ, Đại học, Trung dung, Mạnh Tử. Sao lại nói những lời trong cuốn Mạnh Tử là do Khổng Tử nói được?)

Một niềm tin khác, khi đến thăm các công trình kiến trúc cổ, là cảm thấy chắc chắn nó giống như là ban đầu nó đã được hình thành. Trong một cuốn sách về văn hóa Nhật, tôi đọc thấy người ta nêu lên một nguyên tắc khi trùng tu các công trình lịch sử. Là bất cứ thời nào, muốn làm lại các công trình cũ thì cũng phải làm đúng như cái ban đầu, kể từ hình dáng, các chi tiết trình bày cho đến chất liệu kiến trúc.
Một cách tự nhiên, tôi có cảm tưởng, chúng ta có thể tin được nền sử học Nhật Bản, một niềm tin không thể có đối với nền sử học Việt Nam hiện nay.

Trong số các đoàn nội địa tới tham quan tại các công trình kiến trúc lịch sử, ở đâu tôi cũng gặp những đoàn học sinh do các giáo viên già dẫn đường và giới thiệu. Sau được nghe lại, thấy nói là trong chương trình học phổ thông, tất cả các học sinh có quyền được đi tham quan các di tích có ghi trong sử sách. Chi phí các chuyến đi ấy do nhà nước đài thọ và chỉ những người kinh nghiệm lâu năm trong nghề mới được giao việc hướng dẫn các em.
Tình hình này khiến người ngoại quốc hiểu thêm một điều là tại sao không bao giờ các di tích, các thắng cảnh ở Nhật lại có tình trạng tràn ngập khách tham quan như bên Trung Quốc. Hình như những người lớn tuổi của nước Nhật đã tham quan di tích này từ lúc nhỏ rồi, nếu có tham quan chỉ đi lại thôi. Còn ở Trung Quốc, các di tích thường bị lấp đầy bởi người nông dân của các tỉnh xa xôi mà họ muốn đến với các thắng cảnh. Giống như cánh du lịch bụi Việt Nam chúng ta, lấy đi làm cái mốt, đi chỉ để chứng tỏ rằng mình chẳng kém gì người.

Trở lại với quá khứ của Nhật Bản, tôi luôn luôn bị ám ảnh bởi mối quan hệ của nước này với Trung Quốc. Một mặt thì cái ảnh hưởng ấy quá rõ và người Nhật không giấu điều này. Ai đó đã nói: “Người Nhật tìm ở Trung Hoa đức trầm tĩnh, vẻ hào hiệp và tính muôn màu muôn vẻ mà họ không thể có”. Mặt khác, suốt trong quá trình lịch sử, người ta cũng bắt gặp nỗ lực của người Nhật hướng theo cái tinh thần “trên cơ sở hoàn thiện mình, dám là mình, vui với mình và không ghen tức với người nước ngoài”. Đó lại là điều không thấy ở người Việt, văn hóa Việt.

Người Nhật làm du lịch
Những người tổ chức du lịch đã cố gắng cho chúng tôi biết được nước Nhật ở nhiều cung bậc khác nhau. Ví dụ về giao thông họ có bố trí cho chúng tôi ngoài chuyện thường xuyên ngồi trên ô tô, có lúc đi tàu thủy, có lúc đi tàu cao tốc.
Về ăn uống, ngoài những lối ăn nhanh theo kiểu buffet thì họ thường xuyên cũng cho chúng tôi vào những quán ăn tổ chức theo kiểu truyền thống. Ở đó, bọn tôi ngồi bệt xuống đất, chân đặt lên cái hố được khoét rộng chung cho cả bàn, trên bàn đặt nồi lẩu. Cái thú vị nhất đối với bọn tôi nói ra kể cũng phàm tục song cũng xin kể ra kể đây. Thú vị vì, nhìn vào cái nồi lẩu, thịt không bao giờ thiếu. Khi ăn hết, nếu cần chúng tôi có thể gọi thêm mà không phải trả thêm tiền.
Lúc đầu bọn tôi cũng lo lắng có những món ăn của Nhật không hợp khẩu vị, sau thì thấy cũng thích nghi dễ dàng.

Trong các chương trình như là thêm vào buổi chiều hôm nay, có việc chúng tôi đến thăm cửa hàng kimono. Ở đó, khách du lịch vừa có dịp tham quan cả cơ sở người ta đang dệt vải để làm ra kimono, và cũng có một buổi biểu diễn thời trang, trong đó những người Nhật trình bày cách sử dụng trang phục này.
Điều “rất Nhật” ở đây lại chính là cái bề ngoài “không chuyên nghiệp”, nó ngay lập tức gợi nên một thoáng thất vọng ở những người Việt thạo đời. Ra vào đi lại trên sân khấu lúc này không phải là những cô gái chuyên môn trình diễn thời trang, mà chỉ những người phụ nữ bình thường, tưởng như họ đang đi ngoài phố, vừa được mời vào.
Phụ nữ Nhật nói chung không đẹp, rất ít khi chúng tôi phải sững sờ cả người như khi sang Trung quốc, bắt gặp các cô gái còn chất quý phái hôm qua. Những cô gái Nhật biểu diễn thời trang ở xưởng làm và bán kimono cũng không thể gọi là đẹp. Họ trình diện trước du khách như những người thông minh, nghiêm túc, tự trọng, có sự cởi mở với người bên ngoài, mà vẫn giữ cho riêng mình đời sống nội tâm. Những bộ trang phục họ mang ra trình diễn hôm đó không phải là những hàng đắt tiền mà đám dân du lịch Việt Nam – những người đang thèm tiêu tiền — háo hức. Nhưng họ đâu có tính chuyện câu khách. Họ chỉ muốn giới thiệu một nét văn hóa Nhật.

Những dư âm của cuộc động đất
Tiếp tục câu chuyện về người Nhật trong sự so sánh với người Việt Nam. Sự kiện động đất xảy ra cách đây mấy năm vẫn còn trong kí ức người Nhật như chuyện mới xảy ra năm ngoái tháng trước hôm qua. Nhưng, chính lúc đó thì phẩm chất dân tộc của họ được bộc lộ.
Đức nói rằng ở đây đã lâu, song chính anh cũng rất ngạc nhiên vì cách phản ứng của người Nhật với động đất.
Ví dụ như, khi Tokyo mất điện, người ta đi bộ về nhà có khi đến hàng vài chục cây số, cái cửa hàng bên đường tung hàng ra để phục vụ người đi lại, mặc dù họ không có tiền. Khách sạn cho người đi đường vào ở nhà và không tính tiền.
Sau đó, tinh thần và nghị lực của người Nhật cũng bộc lộ ở việc sự nhất trí của xã hội trong việc khắc phục hậu quả tai họa. Sau động đất, nhà nước cắt điện một số vùng thì các vùng khác cũng tự động cắt theo giúp nhà nước có được lượng điện dự trữ. Khi đi làm việc, có lệnh chính phủ, công chức không dùng caravat để tránh giặt giũ nhiều, thì người thường cũng tuân theo .
Cả nước bao giờ cũng làm quá hơn so với mức chính phủ yêu cầu. Chỉ có câu khẩu hiệu nêu ra và viết trong các taxi: Nhật Bản hãy cố gắng. Mấy chữ ngắn ngủi thế thôi, mà người Nhật đã hiểu rất nhiều.
Trở lại với ý nghĩ mới hình thành trong tôi mấy ngày nay, hình như với người Việt Nam thì người Nhật ở dạng đảo ngược. Người mình sống trong sự cạnh tranh, phải lấy dối trá làm đầu khi quan hệ với nhau. Trong quan hệ với nhà nước và cộng đồng, càng trục lợi kiếm chác cho cá nhân càng tốt. Ở Nhật, giữa cá nhân và cộng đồng có niềm tin chắc chắn. Luôn luôn người ta tin rằng, những nỗ lực cá nhân của người ta sẽ được xã hội hiểu, những người tự trọng không thể làm khác.

12 – 6
Chuyện quanh những ngôi chùa
Ngày cuối cùng ở Nhật
Mấy hôm trước, chúng tôi đã đi qua những thành phố nổi tiếng của xứ sở này như Kyoto, nhưng dù thế cũng chỉ là lướt qua. Hôm nay cũng vậy, mang tiếng là được đến kinh đô cổ kính của nước Nhật là Nara, nhưng chúng tôi cũng chi được đi qua phố xá một quãng, sau đó được dẫn đến thăm ngôi chùa cổ đọc theo chữ Hán là Đông Đại Tự.
Trên đường phố Nara, bắt gặp những ngôi nhà cổ, loại nhà một tầng mà chắc chắn đã có từ rất lâu đời. Trong việc xử lí những di sản này, chỗ khác của người Nhật vẫn rất rõ. Họ có sự bố trí thế nào để những ngôi nhà cổ rộng rãi hòa hợp tự nhiên với những cao ốc hàng chục tầng bên cạnh,– việc này gợi cảm giác những người sống trong ngôi nhà cổ là những cư dân lâu đời ở đất này, có thể là họ còn giàu có nữa kia, thì mới được ở trong những ngôi nhà đó.
Còn ở Việt Nam bên cạnh những cao ốc thường khi cũng có những ngôi nhà rách nát, làm hỏng hết cảnh quan chung. Những cuộc đền bù bất minh, hoặc tâm lý thấy ai giàu có là ghen lồng ghen lộn, ì ra ăn vạ…đã là nguyên nhân làm cho cái cũ cái mới không thể chung sống hòa hợp.
Hai bên đường tới Nara, du khách cũng bắt gặp rất nhiều ngôi chùa. Đây là một địa điểm được mệnh danh kinh đô của Phật giáo, đã từng là địa điểm tổ chức Đại hội Phật giáo thế giới.
Nhưng một chuyện buồn lại bắt đầu len vào, khó mà quên được. Đức hướng dẫn viên chỉ hai bên đường và nói rằng ở đây có rất nhiều cửa hàng bán đồ dùng dành cho các nhà sư. Anh kể tiếp, nhiều nhà sư Việt Nam đa đến Nara này, và điều mà người Nhật bản xứ đã sửng sốt là những nhà sư đó đã mua những trang phục đắt tiền nhất toàn loại những nhà sư các nước khác không dám mua.
Đức có người bạn đã đi theo đoàn Phật giáo ấy, chứng kiến cảnh mua bán của các vị sư. Với thói quen của người Sài Gòn, người bạn ấy có hai phản ứng. Một là lập tức tính sẽ tổ chức những của hàng tương tự ở Việt Nam để bán cho giới tu hành hám chuyện làm dáng. Hai là nhiều lúc nghĩ không muốn thành Phật tử nữa bời vì không hiểu vì sao sư mô Việt Nam lại trần tục đến như vậy.

Một chút so sánh và cảm giác về một nước Nhật quá xa xôi
Khi đi trên đất Nhật tôi hay nhớ lại những lần đến các xứ khác.
Du lịch Trung Quốc, đối với tôi như là một chuyến trở về nguồn. Ở đó tôi nhớ không chỉ là những lâu đài tráng lệ hay những viên lâm cổ kính sang trọng – không khí như trong phim Hồng lâu mộng — mà tôi còn thấy ở đây có những mặt trái, tức cả đời sống cùng cực của người lao động bình thường.
Ở Bắc Kinh, tôi đã vào những ngõ nhỏ mà ở đó người ta , từng cụm dân trong hồ đồng, phải dùng hố xí tập thể, và con đường quanh co là những mái nhà lợp tôn, lợp ngói cổ cái thấp cái cao như những hẻm nhỏ Hà Nội. Tôi cũng thấy người ta buôn gian, bán lận, nói thách, làm hàng giả theo lối làm tiền chém du khách không tiếc tay.
Bởi Việt Nam luôn là Trung quốc bị hạ thấp hẳn xuống thu nhỏ hẳn lại cái tốt bớt dần cái xấu tăng thêm, nên tôi càng hiểu những tệ hại của xứ mình không biết bao giờ mới khắc phục được.
Ngay cả với nước Nga nửa Âu nửa Á, tôi cũng thấy điều gì đó tầm thường dung tục. Hồi còn Liên xô, đó là những đống đất xây dựng ngổn ngang ngay ngoài cửa cách hàng rào sân bay không xa; những phiên chợ nông trường lèo tèo; đám đầu trọc nghênh ngang ngoài đường. Và bây giờ ở nước Nga của Putin, cái tôi còn nhớ khi đọc các bản tin, là những làng xóm vắng vẻ, người đàn ông say rượu, những người đàn bà chỉ lo trau chuốt để bán mình cho các nhà tư sản mới nổi.
Tóm lại thì ở đâu cũng có cái gì đó gần gũi với mình.
Ngược lại, đến với nước Nhật, từ lâu tôi cũng biết là đồng văn đồng chủng, da vàng mũi tẹt, nhưng ấn tượng còn lại thì lại là một cái gì khác hẳn so với những ấn tượng đi Nga đi Trung Quốc.
Tôi thấy xã hội Nhật là một cái gì quá đồng đều và quá hoàn chỉnh, do đó là quá xa xôi, người mình không biết bao giờ mới có thể có một xã hội hợp lý như của họ.
Tình thế đó của nước Nhật toát ra không phải từ không khí sinh hoạt của đường phố mà nó thấm vào trong cách sống cách nghĩ của từng con người, cũng như lối sống rời rã, cái năng động hỗn loạn, và tâm lý bèo dạt mây trôi đã thấm vào trong cách tổ chức xã hội của người Việt.
Nhớ lại khoảng thời gian mấy năm 75-76. Quá say sưa vì chiến thắng, người mình có cảm tưởng rằng đã đánh Mĩ được thì làm gì cũng được. Tôi nhớ không phải ở người dân thường mà ở những cấp lãnh đạo cao nhất hồi ấy đã có ngưỡng vọng có ngày Việt Nam sẽ đuổi kịp Nhật. Công thức mà tôi còn nhớ như in là lời truyền miệng như thế này: “Thôi, nói 20 năm thì hơi lạc quan quá, độ 30 năm nữa thì chúng ta sẽ đuổi kịp Nhật”.
Nhắc lại ảo tưởng đó để hiểu rằng, chiến tranh để đẩy chúng ta chui vào sừng trâu, và ra khỏi chiến tranh chúng ta đã xa lạ với thế giới như thế nào. Ta chẳng hiểu gì về người, mà cũng chẳng hiểu gì về chính mình.
Từ đó, trong cái thế giới hiện đại đang thay đổi từng ngày, ta vẫn nhắm mắt mở, bước đi loạng choạng xiêu vẹo.
Trong sự vội vã điên cuồng lo làm ăn sinh sống, xã hội Việt sau chiến tranh đã trở thành một xã hội mất hết tự tin. Không ai bảo ai, không dám thú nhận, song trong thâm tâm, nhiều người chỉ còn tin rằng sẽ chẳng bao giờ chúng ta theo kịp thiên hạ. Cách sống thời thượng nhất lúc này là có cái gì bòn mót mang bán lấy tiền. Ăn cắp của nhà nước cũng được, lột da nhau cũng được, miễn có tiền. Rồi đi nước ngoài mua sắm những thứ xịn nhất, mới nhất, hiện đại nhất. Rồi lấy đó làm niềm tự hào rằng người mình cũng đang có sự tiến bộ vượt bậc theo kịp các nước trên thế giới.

Mấy năm gần đây, nhờ sự trợ giúp của phía đối tác nước ngoài, các trường đại học ở ta thường mở ra các cuộc hội thảo văn học so sánh, trong đó nhiều báo cáo của giảng viên Việt trình bày như là có một bước tiến song song giữa văn học Nhật Bản hiện đại và văn học VN thế kỷ XX, rồi bước tương đồng giữa văn học Nhật đương đại và văn học Việt Nam hôm nay. Trên một số phương diện khác của đời sống cũng vậy. Một cái gì giống như ảo tưởng đang chi phối cái nhìn người Việt khi chúng ta làm cái việc đối sánh giữa mình với người, và các đồng nghiệp Nhật vì lịch sự cũng không tiện bác bỏ. Thường những lúc nghe vậy, trong tôi có cái cảm giác xót xa như khi thấy người ta xoa đầu mình coi mình là một lũ trẻ con. Trong những ngày du lịch bụi ngắn ngủi này, cái cảm giác xót xa ấy lại trỗi dậy để mà càng cảm thấy nó một cách thấm thía hơn.

Nguồn: http://vuongtrinhan.blogspot.com/